Chương I

Năm 1092 Hậu Dư Chấn.

Đó là một con tàu tầm trung. Nhìn từ xa thì trông như một con cá đuối đang đằm mình dưới đáy biển sâu, với hai cánh trải rộng ra hai bên và phần thân ngắn, hẹp dần về sau thành một chóp nhọn như đuôi cá đuối. Thế nhưng khi nhìn gần, thứ đó đích thị là một mớ hổ lốn. Toàn thân con tàu chi chít những hộp và thùng, những khối kim loại cầu và nhọn, được nối với phần vỏ tàu lúc đầu bằng những vết hàn cắt nham nhở mà nhìn thoáng qua cũng đủ biết là phải sau này chúng mới xuất hiện. Rồi những khối cầu và thùng nhọn khác lại được hàn dính lên những cái cũ và cứ thế tiếp mãi. Thậm chí phần kéo dài trông như cái đuôi phía sau tàu cũng là một dải những thùng hàng nối với nhau bằng dây xích. Chúng có lẽ cũng từng có nhiều màu khác nhau, nhưng sau bấy nhiêu lâu bị mài mòn không thương tiếc ngoài không gian thì giờ tất cả đều xám xịt. Cả con tàu cũng vì vậy mà lốm đốm như người bị bong da. Rất may là chủ tàu, dù cho đó có là ai, vẫn còn biết tuân thủ sự cân xứng. Con cá đuối đáng thương bị hà ký sinh đó bằng một cách vô ý hay được tính toán từ trước, có được những thông số kỹ thuật gần như là hoàn hảo.

Nơi duy nhất trên thân con cá đuối kim loại được đặc cách không phải chịu chung phận bị hà đeo bám chính là tấm kính chắn trước phòng điều khiển ở đầu tàu. Mà có lẽ nó cũng đã bị che lấp như bao phần khác nếu việc đó không ảnh hưởng đến tầm nhìn.

Con cá đuối kim loại lười biếng trôi lềnh giữa phông nền đen kịt với cái đầu trắng đục tạo nên từ những vết xước, vết mờ trên tấm kính chắn đầu tàu. Đằng sau tấm kính là phòng điều khiển. Ta có thể thấy căn phòng là một không gian tương đối rộng, dĩ nhiên là chỉ đang xét về diện tích tổng thể. Chứ để nói về khoảng không mà tàu viên có thể di chuyển được thì nó khá là khiêm tốn. Khiêm tốn đến mức vừa đủ cho một người trưởng thành trung bình bước đi không quá chậm. Đôi khi lối đi nhỏ quá đến nỗi họ phải leo lên đi trên những thùng hàng chất đống hai bên, cũng chính là nguyên do làm cho con tàu chật đi thấy rõ. Còn với những chủng loài khác có hình thể lớn hơn con người thì họ cứ mặc nhiên bước đi trên những lô hàng san sát nhau để không bị mắc kẹt.

Ở cách mặt kính khoảng vài mét là một cái bàn điều khiển. Nó trải rộng ra hai bên và nương theo độ cong của đầu tàu. Trên mặt bàn có chi chít nút bấm và cần gạt, và những đốm đèn đỏ và vàng mà chỉ có chủ tàu và kẻ đã thiết kế ra con tàu này mới nhớ nổi chúng là gì. Cái bàn không được đúc thành một khối. Nó chỉ có mặt bàn và những trụ kim loại, được thiết kế để có dáng cong cong, cùng màu với mặt bàn, nối giữa mặt bàn và sàn tàu. Có thể dễ dàng nhìn ra được là cấu trúc của nó chưa từng bị thay đổi vì nó không như những bộ phận khác, nham nhở và chắp vá. Cái bàn không mấy đẹp mắt đó lại là một tác phẩm nghệ thuật khi được đặt trong căn phòng điều khiển. Nhưng rồi nó lại bị phá tan nát như bao bộ phận khác của con tàu vì con mắt thẩm mỹ của chủ. Thêm một đống những thùng và hộp chất kín khoảng trống hiếm hoi bên chân bàn, tiếp tục biến cái bàn điều khiển khổ sở trở nên nham nhở và chắp vá. Mặt dưới của cái bàn có mấy sợi dây điện đủ màu sắc thòng xuống. Một số thì quấn cả vào nhau như cuộn len rối. Một số khác thì bị tróc mất lớp cao su bên ngoài mà chỉ có thần thánh biết là từ lúc nào. Những sợi dây đồng đỏ au và bóng loáng lấp ló bên trong lớp nhựa bọc đã cũ như những con rắn, chực chờ có người chộp trúng là cắn cho một cú thật đau.

Sau bàn có mấy người đang thao tác trên bảng điều khiển. Những gương mặt đó và số lượng của họ sẽ không cố định. Có lúc sẽ có tới mười mấy người cùng điều khiển, nhưng cũng có lúc chỉ vài ba người. Mỗi người sẽ đảm nhận một nhiệm vụ khác nhau. Chẳng hạn như liên lạc, hoa tiêu, hay điều khiển một bộ phận riêng biệt của tàu. Chủ yếu thì lúc cất cánh hoặc chuẩn bị cập cảng là lúc cần nhiều người nhất. Trong số họ chẳng có mấy ai là con người. Trước đây thì việc các chủng loài khác du nhập đến Manan rất hiếm, nhưng từ sau khi tinh cảng mới được xây dựng thì lượng người từ các thiên hà khác cứ đổ xô đến một cách kì lạ. Đủ hạng người, đủ tộc người, đủ mục đích. Cũng như con tàu này.

"Giảm tốc, chuẩn bị cập cảng."

Người vừa nói là một người đàn ông trẻ thuộc chủng tộc Lapis đang đứng giữa hai người ngồi trước bàn điều khiển. Y khoác một cái áo da màu nâu cà phê đã ngả màu và dính đủ loại dầu máy. Hai tay áo xắn lên tận khuỷu, để lộ ra hai cẳng tay rắn chắc. Mặt sau cánh tay y được bao phủ bởi một dải các mảnh vảy có hình dáng không đồng đều. Chúng phân bố dọc theo chiều dài cánh tay, bắt đầu từ đâu đó cao hơn cả khuỷu tay, sau đó xếp xuôi xuống đến tận đầu ngón tay mới kết thúc. Càng xuống thấp, các mảnh vảy càng nhỏ và mỏng hơn. Trông chúng như những mảnh thạch anh khói màu nâu đậm và liên kết chặt chẽ với nhau một cách hoàn hảo như được cắt từ máy. Dọc theo hai bên cổ lên thái dương tới đỉnh đầu cũng là các mảnh vảy tương tự. Phần lớn chúng có dạng thuôn dài và to hơn nhiều so với những mảnh trên tay. Các mảnh này đều được xếp hướng ra phía sau đầu. Y có đôi mắt hình cầu, to hơn một chút so với loài người. Con ngươi của y gần như che lấp toàn bộ hốc mắt khiến cho đôi mắt y hầu như chỉ có màu đen.

Lớp vảy cứng như giáp và đôi mắt như bò sát là kết quả mà hàng triệu năm tiến hoá ở vùng núi lửa đã mang lại cho chủng tộc Lapis.

"Đã tắt động cơ chính, chuẩn bị bật động cơ phụ."

Người phụ nữ ngồi ghế bên phải lên tiếng. Cô bật một công tắc rồi kéo cần gạt bên cạnh xuống. Cần gạt có lẽ khá nặng, người phụ nữ phải dùng sức mạnh hơn mới kéo được nó.

Trước mắt có đến hàng trăm con tàu ngổn ngang trong không gian, đủ kích thước và màu sắc. Một số tàu vẫn còn mới, thậm chí đến số hiệu trên thân tàu vẫn còn rõ nét. Nhưng có những con tàu lại trông như vừa từ tiền tuyến về. Vỏ tàu đã cũ mèm, những vết lõm, vết đạn trên đó cũng đã được thời gian mài tròn nhẵn. Nó khiến người ta phải thấy ngạc nhiên khi vẫn còn bay được, mà còn bay rất tốt. Một con tàu giống như vậy vừa bay ngang qua con cá đuối. Khói đen từ động cơ của nó phả ra che kín mất tầm nhìn của những người trong phòng điều khiển.

Người đàn ông tộc Lapis khó chịu ra mặt. Y cau mày, môi trên nhếch lên đầy bất mãn vì tàu của mình bị làm bẩn, mặc dù vết bẩn đó chẳng đáng là gì so với những gì tự y đã làm ra cho con tàu khổ sở này.

"Lần sau về trạm phải mang nó đi rửa thôi."

Y chắp tay sau lưng, hai đầu ngón tay chà xát vào nhau như thể có thể cảm nhận được sự dính nhớp của dầu máy ngay trên đầu ngón tay.

"Giờ anh mới thấy nó cần được rửa à?"

Đâu đó trong căn phòng điều khiển có tiếng hỏi. Tiếng cười rầm rì nổi lên. Người đàn ông không có vẻ gì là giận, vì chính y cũng cười, sau đó lắc đầu.

"Đừng có tưởng bở. Chỉ rửa cái kính thôi."

"Tôi biết ngay mà." - Người vừa rồi lại lên tiếng.

Bên ngoài phòng, hai động cơ đẩy khổng lồ ở mặt dưới tàu từ từ dừng lại, ánh sáng màu lam nhạt yếu dần rồi tắt hẳn. Con tàu tiếp tục trờ về phía trước theo quán tính, tiến vào biển tàu. Phía dưới mỗi cánh tàu hạ xuống ba phiến sắt, mặt trong mỗi phiến chính là những động cơ phụ của tàu. Các cánh quạt khởi động, đẩy ra những luồng khí nóng rực để điều hướng con tàu luồn lách giữa những con tàu khác và tiến vào cảng.

Cảng nói đây không phải là tinh cảng mà là chốt hải quan riêng của hành tinh. Nó là trạm không gian lớn nhất trong số những trạm mà người có mặt trên con tàu này từng thấy qua. Dĩ nhiên là trừ tinh cảng ra. Thân trạm lớn đến gấp mấy mươi lần con tàu, là một khối kim loại khổng lồ nằm lơ lửng trên hành tinh. Nó là nơi đặt phòng quản lý và kiểm soát của hải quan. Bên cạnh nó là một thứ có dạng hình ống chữ nhật, lớn vừa đủ cho hai chiếc tàu chiến đậu nối đuôi nhau bên trong. Thứ đó mới thật sự là cảng.

Hàng tàu chờ vào cảng dài đằng đẵng. Trong tàu, người đàn ông trẻ tộc Lapis đã leo lên thùng hàng sau lưng mình rồi ngồi xếp bằng trên đó.

"Kỳ này đông hơn hẳn nhỉ?" - Một giọng nói ồm ồm cất lên, trầm và vang như tiếng tù và.

Người đàn ông ngẩng mặt lên. Trước mắt y là một cái bóng cao ngất, có thể hơn y đến hai cái đầu. Toàn thân cái bóng to như một con bò mộng. Hắn phất tay, ý bảo y dịch sang bên nhường chỗ cho mình. Người đàn ông hiểu ý chống tay đẩy người qua bên, tạo ra một khoảng trống tương đối rộng. Cái bóng xoay người lại rồi ngồi xuống đánh phịch.

"Dĩ nhiên. Sắp đến mùa khai thác rồi. Hai bên lại chuẩn bị đánh nhau đấy. Kỳ cuối cùng của năm nay nên mấy tên này tranh thủ vét đợt chót đấy mà."

Người đàn ông tộc Lapis xoa xoa cái cổ mỏi nhừ rồi nói thêm.

"Mà chúng ta cũng đang đi vét đợt chót đây."

Người còn lại cất tiếng cười rừ rừ, nghe như tiếng mà một con hổ tạo ra khi vươn vai. Mà có lẽ cũng có thể xem hắn như một con hổ. Tộc Ungu có vẻ ngoài thật sự khá giống loài hổ đi bằng hai chân. Chỉ là họ có những đường nét cơ thể khác một chút so với hổ, tạo ra cảm giác dữ hơn những con thú có sọc đó nhiều. Như hai cái răng nanh trắng ởn lộ ra ngoài chẳng hạn, hoặc là mấy cái gai trên lưng. Người đàn ông trẻ bên cạnh hắn đã từng thấy mấy cái gai đó có thể làm ra những việc đáng sợ thế nào, hồi mà cả hai chưa chung tàu với nhau. Y thấy mừng vì mình không phải đứng ở phía đối nghịch với tên tàu phó này.

"Vậy anh nghĩ sao? Tôi thấy trong số chúng có nhiều kẻ 'đụng hàng' mình lắm đấy."

Hắn nói tiếp, hai cái răng nanh dài chuyển động theo từng chữ. Hắn nhìn người bên cạnh. Tên tàu trưởng thản nhiên đáp.

"Chẳng có gì phải nghĩ cả. Chúng chưa đủ để chúng ta phải bỏ sức ra cạnh tranh đâu."

"Lucis này..."

"Hử?"

Y quay qua nhìn hắn. Con hổ to xác ngồi cạnh y nhấp nhổm một lúc, sau đó đột nhiên cúi đầu rồi thở dài.

"Thôi không có gì đâu. Tôi chợp mắt một lát. Khi nào cập cảng thì gọi tôi dậy."

Gã tàu trưởng tên Lucis chớp đôi mắt đen bóng như hai hạt đậu của mình đầy ngạc nhiên. Y không nghĩ sẽ có chuyện gì mà hắn lại ngập ngừng không thể nói ra như vậy. Nhưng hắn đã tựa lưng vào tường và nhắm mắt lại rồi. Đó là cách mà hắn kết thúc một cuộc trò chuyện nếu nó bắt đầu chuyển biến theo hướng mà hắn không muốn. Nhưng Lucis cũng không định hỏi. Y không bị mắc chứng tò mò quá mức. Nếu là chuyện thật sự quan trọng thì sớm muộn gì y cũng biết.

Lucis bắt chước tàu phó ngả người ra sau, tựa lưng lên một thùng hàng khác. Y nhìn lên trần tàu bằng sắt một lúc rồi cũng mơ màng.

Không biết bao lâu sau, ai đó gọi tên Lucis. Có lẽ y chỉ vừa thiếp đi chừng dăm phút nên không thấy lờ đờ. Nhưng Lucis chỉ vừa chớp mắt mấy cái, phía trước đầu tàu đã đột ngột sáng choang lên. Tàu tiến vào trong cảng mà tưởng như có ai vừa chụp lên con tàu một cái lồng ánh sáng. Bốn phía bên trong cảng gắn đèn công suất lớn đến chói cả mắt. Y nheo mắt và đưa tay lên chắn bớt ánh sáng trước khi mắt có thời gian làm quen với đống đèn điện đó. Bên cạnh Lucis có tiếng lầm bầm bực dọc nghe không rõ lời.

Lucis tắc lưỡi. Y dụi mắt vài lần rồi nheo mắt nhìn về phía trước. Y nhìn thấy một thứ trông như cái lồng lồi ra từ bề mặt trong cảng. Nó có hình như một cái hộp đa giác đều màu trắng, lớn gần bằng con tàu, được ghép từ các mảnh hình tam giác nhỏ hơn. Các mảnh đó bắt đầu được đẩy bung ra ngoài bằng những thanh sắt bên trong lồng, khiến cả cái lồng trông như một đoá hoa kỳ dị. Rồi những mảnh tam giác đó lại tách ra nhỏ hơn nữa. Chúng cuộn vào nhau bay xa khỏi lồng như một cơn lốc màu xám ánh kim, sau đó tụ lại lần nữa khi chúng liên kết với nhau tạo ra một cầu cảng lớn chìa về phía con tàu.

"Đã mở mắt cá, chuẩn bị cập cảng."

Một trong số những người ngồi trước bàn điều khiển lên tiếng. Một mảnh kim loại bên hông tàu được nâng lên, để lộ ra một lỗ hổng lớn. Bên trong là mắt cá, một thứ trông như cái phích cắm điện hình tròn khổng lồ. Một thao tác nhỏ trên màn hình điều khiển, mắt cá liền rung lên và phát ra tiếng tru trầm đục. Lỗ hổng tròn nhẵn và đen kịt phát ra ánh sáng màu lam khi dòng điện chạy qua như một con mắt phát quang. Dòng điện qua mắt cá hung hãn thò những cánh tay gầy nhẳng và sắc nhọn ra ngoài, nhưng không khí bên ngoài khiến chúng không thể tiến xa hơn nên chỉ có thể tiếp tục bò trườn trên mắt cá như những sợi kẽm gai phát sáng. Con tàu tắt hẳn tất cả các động cơ, tiếp tục trôi về phía trước một cách chậm rãi. Bản thân cầu cảng cũng sáng lên vì điện. Khi mắt cá trôi đến thẳng hàng với cầu cảng, hai khối nam châm khổng lồ liền hút lấy nhau, khiến con tàu bị kéo mạnh về phía cầu cảng.

Lucis bám chặt vào các thùng hàng. Con tàu bị kéo lệch hẳn sang bên khi cầu cảng hút nó khiến mọi người trên tàu đều nghiêng ngả, sau đó lại ngả ngược lại khi tàu va vào cầu cảng đánh sầm. Mặt đất dưới chân rung lên, mãi đến khi các chốt trên cầu cảng và mắt cá khóa chặt vào nhau mới dừng.

Chân Lucis vừa đứng vững lại thì đã có người lên tiếng:

"Tàu trưởng, chúng ta có một yêu cầu liên lạc từ trạm."

Lucis đeo tai nghe lên rồi ấn mở nó.

"Chấp nhận."

Màn hình điện tử nhỏ trên bảng điều khiển hiển thị nhiều đường thẳng đan xen vào nhau, thỉnh thoảng rung lên tạo ra những gợn sóng không đều. Trong tai nghe có tiếng nhiễu, sau đó một giọng nam truyền đến tai Lucis.

"Tôi đang nối máy với ai đây?"

Lucis vô thức nhìn xuống những đường gợn sóng đang nảy lên trên màn hình theo từng chữ mà người ở đầu dây bên kia thốt ra. Y đáp lời một cách nhàm chán câu thoại mà mình đã thuộc nằm lòng từ lâu.

"Lucis Avanidhar, tàu trưởng tàu 105, cấp 4, thưa ngài."

Ở đầu hầm phía đối diện đầu tàu xuất hiện một tấm lưới màu xanh nhạt được tạo ra từ những tia sáng. Tấm lưới phủ kín mặt cắt của cảng và đang tiến về gần con tàu. Bên kia lại lên tiếng.

"Các anh đến Bellum làm gì?"

"Chúng tôi vận chuyển hàng."

"Xin vui lòng khai báo."

Lucis rời mắt khỏi tấm lưới xanh lúc đó đã quét đến mũi tàu. Y đưa tay nhận lấy bảng danh sách mà tàu phó vừa chuyền qua rồi dò ngón tay lên từng dòng chữ, y đọc cho đầu dây bên kia đối chiếu.

"Hai mươi ba thùng trà đen, bảy thùng vải các loại, mười bảy thùng than đá, ba mươi bốn thùng tinh thạch,..."

Tấm lưới xanh quét hết con tàu vừa lúc Lucis đọc xong danh sách.

"...Tổng cả thảy là hai trăm sáu mươi tám thùng."

Đầu dây bên kia im lặng một chút, sau đó lại lên tiếng.

"Lạ thật đấy. Vậy mà chúng tôi lại quét được đến hai trăm bảy mươi ba thùng hàng trên tàu các anh."

Lucis bật cười. Y gõ ngón tay lên miếng bìa cứng kẹp bản danh sách.

"Cho ông cả đấy. Lấy đi." - Lucis kéo dài giọng.

Tấm lưới xanh quay lại đầu cảng trước mũi tàu rồi bị tắt đi.

"Thủ tục cả thôi. Các anh thông cảm."

Lucis lầm bầm mắng không thành tiếng, sau đó mỉm cười đáp lại:

"Không sao, chúng tôi hiểu mà."

Tiếng ù ù từ cầu cảng dịu đi, đèn xanh quanh cầu cảng mờ dần rồi tắt hẳn. Lucis ra hiệu cho cấp dưới ngắt điện mắt cá. Con tàu trôi nhẹ ra khỏi cầu cảng. Chi cục trưởng lại lên tiếng:

"Chào mừng đến với Bellum. Chúc công việc thuận lợi."

"Cảm ơn."

Cuộc gọi kết thúc. Lucis cười khẩy gỡ tai nghe xuống rồi vứt nó lên bàn điều khiển.

"Đồ khốn." - Y vươn vai ngáp dài - "Ra khỏi đây thôi. Mấy cái bóng đèn này làm tôi đau đầu rồi."

Con tàu bay ra khỏi cảng. Động cơ chính dưới bụng tàu khởi động, đẩy con cá đuối sắt bay về phía hành tinh đỏ bên dưới.

Đằng sau chốt hải quan là một mạng lưới Luxemac dày đặc, bao bọc hành tinh đỏ bên trong kín mít. Lấy quả cầu nhỏ bằng lòng bàn tay bên trong Luxemac làm tâm, từ đó toả ra ngoài là tầng tầng lớp lớp những vành đai bằng đồng thau có đường kính lên đến hàng chục dặm. Mỗi một vành đai tự xoay quanh đường kính của chính mình và được sắp xếp để các trục quay không song song nhau. Thiết kế đó khiến cho xác suất để các vành đai có đường quay giống nhau trong khoảng một giây nhỏ đến mức tối thiểu. Bên trong quả cầu trung tâm là bụi tinh thạch đã được cán mịn. Khi các vành đai xoay nhanh hết mức, năng lượng toả ra từ tinh thạch sẽ được khuếch đại và tỏa ra ánh sáng trắng. Mỗi một Luxemac coi như là một ngọn đèn. Mạng lưới Luxemac bao bọc Bellum là một minh chứng sống cho sự vực dậy của con người từ cõi chết sau thời kỳ tăm tối.

Từ trong tàu còn có thể nhìn thấy một vài mảnh vỡ của Manan ở đằng xa, ngay trung tâm hệ sao. Những mảnh vỡ xám xịt đã mất đi sức sống trôi giữa dải tinh vân trông như xác người chết quấn vải liệm. Một mảnh vải liệm đỏ như dòng sông máu. Đó là lý do vì sao không con tàu nào dám bay gần xác Manan. Đám tinh vân đó quá dày, tầm nhìn sẽ bị hạn chế rất nhiều nếu di chuyển trong đó.

Ánh sáng từ Luxemac cực kỳ chói mắt. Vậy mà ngay khi con tàu chìm vào trong bầu khí quyển của Bellum, lớp bụi dày màu nâu đỏ như tấm chắn ngăn chặn nguồn sáng đó lại. Không khí bên dưới như một bộ lọc ảnh phủ lên mọi thứ mà mắt người nhìn đến được, hầu như chỉ có thể dựa vào radar để di chuyển. Kinh đô ở phía đông bắc, cũng là nơi họ sẽ giao hàng. Nhưng con cá đuối sắt lại trở mình, bay theo hướng ngược lại về phía Hạ Tầng.

Hàng hoá dưới khoang chứa hàng được chất sát hai bên vách tàu để chừa chỗ mở cửa khoang. Một chiếc xe máy độ chễm chệ dựng ngay trước cửa khoang hàng, trông sặc mùi lính đánh thuê. Lucis kéo dây kéo áo khoác lên đến tận cằm. Y leo lên xe rồi đeo kính bảo hộ lên. Khi cửa khoang hàng mở ra, tiếng ù ù từ động cơ tàu tràn vào đinh tai nhức óc. Lucis vẫy tay rồi phóng xe ra ngoài. Tên tàu phó đưa tay ra cản bớt gió, mắt nheo lại vì bụi ùa vào mù mịt. Cửa khoang chậm rãi kéo lên rồi khép lại. Một người nào đó lên tiếng.

"Anh ta vừa nói gì đấy?"

Con hổ to xác nhún vai rồi quay đi, giọng trầm như kéo bễ.

"Cũng chẳng phải việc quan trọng đâu. Làm việc đi."

Quanh cửa khoang vốn cũng chẳng có mấy người. Tên tàu phó quay lại nhìn cửa khoang lần cuối qua vai rồi cất bước đi thẳng.

Xe và tàu tách nhau ra, đi về hai hướng khác nhau. Chiếc xe máy độ chơ vơ giữa khoảng không vô tận như một đốm đen nhỏ xíu rẽ bụi đỏ mà phóng vun vút. Bụi tạt về phía Lucis như bão cát. Kính bảo hộ nhanh chóng bị bụi đóng mờ căm, buộc lòng y phải nhìn vào radar mà chạy. Dường như bụi trong không khí đã tăng lên nhiều so với lần trước y tới Bellum. Giờ thì một gờ đá nhỏ cũng có thể khiến y lật xe ngay lập tức. Nhưng nhờ ơn giời, hay nhờ ơn bọn quý tộc đốt tiền như đốt rác mà Bellum lúc nào cũng có ánh sáng, ít ra thì không cần phải lo gặp phải vùng ô nhiễm.

Xe phóng băng băng như đạn bắn khoảng chừng dăm phút thì phía trước đã có thể lờ mờ nhìn thấy một khối kiến trúc lớn. Một mái vòm tròn khổng lồ làm bằng kim loại như ẩn như hiện trồi lên phía sau làn bụi. Gọi nó là một khối kiến trúc có lẽ cũng đã đề cao thứ đó qua rồi, dù nói thật lòng thì nó cũng có thể được coi là kiệt tác, về tính ứng dụng thực tiễn. Xét tổng quát thì nó vẫn tròn, nhưng nhìn gần hơn thì phải nói là nó khổ sở không kém gì con cá đuối sắt của Lucis. Người xây nên nó chắc hẳn phải là một gã kỹ sư. Cứ như dựng đại cái khung rồi đắp dần vào chỗ nào còn trống ấy. Nhưng, như đã nói, gã kỹ sư đó là một kẻ tài. Thứ đó không đẹp, nhưng nó đã đứng vững đó có lẽ từ trước khi ông nội Lucis được biết mùi oxy, hay có lẽ từ tận lúc mà cụ cố y vẫn còn con gái. Và rồi có lẽ, khi Kinh đô sụp đổ vào một ngày nào đó, thứ đó vẫn sẽ đứng vững, và cả sau lúc đó nữa, nó vẫn sẽ đứng vững.

Những kẻ sống ngoài vòng pháp luật gọi đó là Chợ.

Không giống như Tinh Cảng là một dạng chợ đen cao cấp, trắng trợn lưu thông hàng cấm công khai và được bảo kê bởi giới quý tộc. Chợ là một khu chợ đen truyền thống. Nó có luật lệ riêng, ban quản lý riêng, và rõ ràng là được ưa chuộng hơn nhiều. Một phần là vì giá cả của Chợ tương đối phù hợp cho khách hàng phổ thông hơn là Tinh Cảng, nhưng phần lớn vẫn là vì các mặt hàng được bán ở Chợ. Ở đó có những thứ mà Tinh Cảng không bao giờ có với cái giá rẻ bèo bọt và có trời mới biết là ở đâu ra. Có những thứ máy móc mà người ta chỉ từng nhìn thấy trong tranh ảnh về thời đại trước Sự Sụp Đổ, rồi đùng một cái, nó lại đang nằm la liệt trên một tấm vải rách, cùng chỗ với những linh kiện nhìn không ra cái gì là cái gì. Vũ khí ở Chợ thì phải nói là hơn xa so với Tinh Cảng. Người ta thậm chí còn không nghĩ tới việc đi mua vũ khí ở đó, chỉ bọn nhà giàu lắm tiền không biết làm gì cho hết mới đi làm chuyện vô nghĩa đó. Trả cái giá cắt cổ cho một cây súng thậm chí không có nổi cái cò thì rõ ràng là bị lừa đảo rồi. Kinh đô phồn hoa lộng lẫy là thật, nhưng như đã nói, cái nơi tồi tàn này sẽ sống lâu hơn.

Chiếc xe máy độ của Lucis cũng từ đó mà ra, súng ống cũng toàn là đi gia công ở đó. Kể cả con tàu cũng phải tới mỗi năm một lần để bảo trì. Dù những kẻ ở Chợ chả có kẻ nào không phải là phường vô lại, nhưng vẫn có những đứa làm ăn được, chưa tới mức đáng tin, nhưng mà được. Người mà Lucis thường xuyên qua lại nhất và là người mà y đánh giá tay nghề khá cao thật ra là một thằng nhóc mười hai người ba tuổi gì đấy. Y thích nó, làm ăn sòng phẳng và cũng không còn cái thói sớm nắng chiều mưa của mấy đứa con nít nữa. Nếu bản thân nó muốn, Lucis chắc chắn đã bốc nó đi theo mình từ đời thuở nào rồi. Nhưng mà nó không muốn.

Lính gác trên đài viễn vọng nhìn thấy Lucis từ xa đã mở cửa sẵn cho y. Đuôi xe vừa vào hết thì cánh cửa sập đã đóng sầm xuống. Trong bóng tối kín như bưng, mặt đất chao đảo, rồi bắt đầu cuốn vào trong như người ta kéo tấm khăn trải bàn. Cả người và xe đều bị kéo đi. Vừa mới đứng vững được thì lại gặp phải cuồng phong bão táp. Mấy cột hơi từ hai bên thổi tạt vào Lucis như gió táp, mạnh đến nỗi toàn bộ cát trên người y trôi tuột xuống hết. Lucis bị gió gắt từ bát phương tám hướng thổi đến nỗi tấm màng mắt thứ ba cũng phải đóng lại. Đến lúc mọi thứ dừng lại, Lucis lảo đảo bước vội ra ngoài qua hai cánh cửa vừa trượt mở, sau đó lại đóng sầm lại, giống hệt cái ở đầu vào. Lucis lắc đầu dụi mắt, trong lòng chửi thầm. Cứ làm như người ta thèm vào lắm ấy.

Trước mắt Lucis đã là Chợ, một khoảng không gian rộng lớn nằm dưới vòm trời bằng sắt. Lucis đá chân chống, dựng chiếc xe máy ngay cạnh bức tường đầu tiên mà y thấy. Chỗ này thì không sợ trộm cắp, vì nó có luật riêng. Người lui tới đây đều cùng một giuộc. Chẳng ai dại mà nhặt đồ vô chủ ở đây rồi bỏ túi. Không bị bắt thì chỉ có thể là do ăn may, còn bị bắt lại rồi thì có mà móc mắt ra trả, bù cho cái phí mà đám vô lại đó gọi là phí tổn thất tinh thần.

Chia chác sàn ở đây cũng coi như là bài bản, ô nào cũng vuông vức, y như là cắt bằng tia. Đấy là nói mấy ô dưới đất thôi. Phía trên thì cứ phải gọi là mê cung. Giàn giáo bị coi như trụ bê tông cốt thép, tấm bạt tàu bay thì coi như tường. Tầng dưới cùng còn nhìn ra được đường đi lối về. Đến tầng thứ hai thì đã muốn nổ đom đóm mắt. Mấy tấm lưới sắt hình chữ nhật từng làm nắp cống ở Kinh đô, tưởng quăng ra bãi rác là được nghỉ ngơi chờ đợi về với cát bụi, ai ngờ lại bị nhặt về rồi hàn lại, bắc làm cầu nối. Tấm nào còn nguyên thì cầu thẳng. Thậm chí có tấm bị gãy xéo ngang dọc cũng cứ thế mà hàn, rồi ra thành phẩm cây cầu góc vuông. Mà có miếng để đứng đã mừng. Còn có mấy chỗ chỉ bắc bừa cái ống nước. Chân dài thì co chân lên rồi cứ thế bay qua. Chân hơi ngắn thì coi như là bay từ tầng trên xuống tầng dưới. Mưa người ở đây chẳng phải của lạ. Người đi qua đi lại thì cứ thông thống, đi xuyên từ gian này qua gian kia như nhà mình. Giết người giấu xác trong đó có khi đến đời cháu, chắt, chút, chít của nạn nhân mới phát hiện ra được. Mà tòi ra rồi có khi con cháu còn chả biết đó là ai. Sống ở Hạ Tầng này thì đừng bao giờ nói đến mắt thẩm mỹ. Có xài được không? Xài được? Vậy là được rồi còn gì.

Lucis nhìn thấy một lão già râu bạc trắng, miệng ngậm tẩu thuốc, đầu đội mũ nồi đang ngồi hì hụi làm gì đó với cái cờ lê to gần bằng cổ tay chính lão. Cái áo sơ mi ngả màu cháo lòng của lão dính đầy dầu máy. Hơi người trong không gian kín nóng hầm hập mà lão cứ giữ khư khư cái mũ trên đầu. Cá là đầu lão còn sáng bóng hơn cả cái mái vòm này. Lucis đến gần lão.

"Rufus đang ở đâu đấy ạ?"

Lão già ngẩng đầu lên. Âm thanh xung quanh truyền vào tai lão cứ ù ù như người lặn dưới nước nghe tiếng nói trên bờ. Lão cau mày, đầu nghiêng qua bên rồi rướn cổ về phía Lucis.

"Ai vừa nói gì đấy?"

Lucis cũng chúi đầu lại, nói lớn lên. - "Tôi hỏi là lão có biết Rufus đang ở đâu không?"

Lần này thì lão già nghe rõ rồi, còn bị giật bắn mình nhảy dựng lên. Lão ngoáy ngoáy tai rồi kêu lên.

"Cái thằng nhãi trời đánh đấy ở đâu thì ai mà biết được chứ? Cầm tinh con cáo mà bay nhảy như con ngựa ấy. Cái chỗ rộng thế này anh bảo tôi biết được nó đi đâu?"

Lucis thất vọng thở dài. "Thế thôi ạ."

Ở Chợ không có mấy đứa như Rufus. Vì phải sống một mình, tự sinh tự diệt trong xã hội khắc nghiệt thế này nên dù mới mười mấy mà mánh lới kiếm cơm nó đã rành hơn cả người lớn. Trong lúc mấy đứa con nít khác còn đang chơi bời thì nó đã phải lo tiền ăn tiền ở. Bạ ai ở đây mà hỏi cũng biết tới nó. Người tới đây thì đủ nơi đủ dạng, mà người ở lại thật ra rất ít. Vậy nên ai cũng biết rõ chuyện nhà của nhau, chỉ riêng Rufus là không ai biết gì. Thậm chí nó tới đây thế nào cũng không ai biết, cứ như thật sự xuất hiện từ hư không. Đột nhiên một sáng thức dậy, người ta thấy một đứa nhỏ quấn trong mớ giẻ rách. Rồi nó cứ thế ở đây từ đó đến nay. Không ai chịu nhận nuôi nó, mà nó cũng không chịu để ai nuôi. Lucis hiểu ý nó. Nó không muốn mắc nợ. Việc gì có thể dùng tiền giải quyết thì cứ dùng tiền giải quyết. Nợ ân tình đặt ở tầng đáy xã hội này còn nặng hơn nợ mạng.

Chỉ phải cái tội hay biến mất đột xuất. Tới thì như từ trên trời rớt xuống, mà lâu lâu cũng lại mất tích như là bốc hơi về lại với không khí.

"Này anh ơi, thằng nhóc đang ở khu III ấy. Qua đó mà kiếm!"

Lucis ngẩng đầu lên. Ngay trên gian của lão già là một cái hộp nhỏ cũng dựng bằng giàn giáo, xung quanh bọc vải nhung đỏ như rèm che. Một tấm rèm đang được kéo lên. Một cái mặt thoa phấn trắng ởn đang ló ra đó. Chính nó vừa nói với y.

"Ô thế ạ? Cảm ơn bà chị nhé!" - Lucis đưa tay lên chào.

Cái mặt phấn nheo lại như cái bánh bao bị người ta bóp. Hai con mắt đánh màu và gắn mi đen ngòm, không nhìn ra được dù chỉ một chút tròng trắng. Đôi môi đỏ lừ như máu thì thừ ra. Cái mặt đỏ thét lên chất giọng chua ngoa.

"Anh vừa gọi ai là chị hả? Tôi thế này mà gọi là chị à? Ăn nói kiểu gì đấy? Thật là bất lịch sự! Đồ vô học!"

Lão già lãng tai cũng bị dọa giật mình vì tiếng thét đó. Sau đó lão và cái mặt trắng còn cãi nhau những gì đó nữa nhưng Lucis không biết, vì y đã chuồn đi từ đời nào rồi.

Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top