Phần Không Tên 2
"Một nhà văn chân chính là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy"
(Xê Cốp)
Từ "nhân đạo" ở đây là chỉ thái độ yêu ghét của nhà văn trước cuộc sống, những sự vật, sự việc và với chính nhân vật của mình. Giống như Nguyễn Dữ, ông cảm thương sâu sắc cho số phận bi đát của nàng Vũ Thị Thiết – nhân vật chính trong:"Chuyện người con gái Nam Xương".
Ngay từ lúc bắt đầu, hình ảnh Vũ nương đã được Nguyễn Dữ xây dựng một cách tuyệt đẹp, đúng với mẫu mực của một người con gái hiền lương thục đức. Nhưng, đớn đau thay một con người như vậy lại không thể tự quyết định cuộc đời, duyên phận của mình. Nàng vốn "...tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp..." nên được mọi người yêu quý, trong đó có chàng Trương, mến nàng vì dung hạnh mà xin mẹ cho mang trăm lượng vàng cưới về. Trong cái xã hội ấy, cái xã hội với quan niệm "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy", lấy tam tòng tứ đức làm chuẩn mực thì người con gái làm gì có cơ hội để tìm hạnh phúc của chính mình. Một cuộc hôn nhân không tình yêu và không cân xứng liệu có làm con người ta hạnh phúc thật sự? Không, chính cuộc hôn nhân như cái lòng sắt nhốt người phụ nữ trong một giới hạn nhỏ bé. Chính nó đã đưa đến những bi kịch. Cuộc hôn nhân không cân xứng ấy là người ta nhớ đến một câu ca dao xưa:
"Ví rằng chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch so sao cho vừa".
Gã vào nhà giàu không làm Vũ Nương hạnh phúc hơn những người con gái khác. Chồng nàng, tức là chàng Trương chính là người tạo nên bất hạnh ấy, Nguyễn Dữ đã miệu tả tính cách của người dàn ông ấy thế này :" Chàng Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức." Nhưng đứng trước sự thiếu tin tưởng của chồng, Vũ Nương càng thể hiện rõ sự hiền dịu của nàng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, làm gì cũng cẩn thận trước sau, ta có thể thấy nhờ vào cố gắng của Vũ Nương mà hai vợ chưa lần nào dẫn đến thất hòa.
Một người con gái vừa đẹp người vừa đẹp nết như nàng phải được hưởng một cuộc sống hạnh phúc,ấm êm. Nhưng trờ trêu thay, TRương Sinh phải xa nhà đi chinh chiến, để lại mẹ già và con thơ cho Vũ Nương chăm sóc. Hình ảnh nàng lúc này làm ta nhớ đến người chinh phụ trong bài "Chinh phụ ngâm khúc" của Đoàn Thị Điểm :
"Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồn cũ chiếu chăn
Đoái trong theo đã cách ngăn
...
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?!"
Một mình nàng chăm sóc cho mẹ già con nhỏ, lo tất cả mọi việc trong nhà nhưng Vũ Nương chưa lần nào mở lời than thân trách phận, nàng cũng không lơ là hay làm việc qua loa cho có lệ, việc gì cũng làm bằng cả tấm lòng và sự yêu thương. Ví dụ như lúc mẹ chồng ngã bệnh, nàng không những không bỏ mặt mà còn chăm lo cẩn thận, "... hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn". Chính nhờ vào một tấm chân tình tha thiết, Vũ Nương đã phá vỡ mọi mối bất hòa giữa mẹ chồng nàng dâu. Chúng ta hãy cùng lắng nghe lời nói trước khi chết của mẹ chàng Trương:" Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn con được. Sau này trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ". Bà cụ qua đời, Vũ Nương hết lời thương xót, nàng lo việc ma chay tế lễ cho bà như là đối với cha mẹ ruột của mình, Nàng có một tâm hồn tràn ngập yêu thương, là một người con dâu hiếu nghĩa.
Nhưng éo le thay, một tấm chân tình ấy vẫn chưa được báo đáp thì những ngày tháng đau khổ, bi đát nhất cuộc đời của Vũ Nương đã bắt đầu, từ ngày Trương Sinh đi lính trở về. Lấy chồng không bao lâu thì phải chịu xa cách biệt li bởi chiến tranh vô nghĩa, tưởng như ngày chồng trở về thì hạnh phúc sẽ đến, nào ai biết chỉ vì lời lẻ của trẻ nhỏ mà Vũ Nương phải mang một nỗi oan tuy có lời lại khó nói. Có lẽ ai cũng từng nghe nói đến Nỗi Oan Thị Kính, dường như nó được lấy làm đại biểu cho sự oan uổng, cho những câu chuyện tình ngay lí gian nhưng, nàng Thị kính ít ra còn được biết nguyên do dẫn đến oan ức của bản thân, còn Vũ Nương, ngay cả khi nàng tìm đến cái chết cũng chẳng ai nói với nàng vì cớ gì mà nàng phải chịu những bi thương này. Chúng ta hãy xem lại một câu nói trong nước mắt của Vũ Nương với chồng: "Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia tay vì động việc lửa bịnh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết, tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nét hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ, xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp." Lời nói mới tha thiết mà chân thành làm sao nhưng "Người trong cuộc thường mù mờ" Chàng Trương vẫn chẳng chịu tin vợ, nàng hỏi ai nói thì lại giấu không chịu kể lời con làm cho cuộc hôn nhân phải đi vào ngõ cụt, đưa đến cái chết ai oán của Vũ Nương.
Oan ức không thể rửa, Vũ Nương còn biết làm gì hơn khi Chàng Trương không chịu nghe lời giải thích? Chẳng biết phải than, phải kể với ai bây giờ? Bi thương đã đẩy lên đến cùng cực, ép buột người con gái ấy đi đến bước đường cùng, nàng trầm mình tự vẫn ở sông Hoàng Giang để chứng minh cho sự trong sạch của mình. Trước khi ra đi, Vũ Nương đã ngửa mặt lên trời mà than rằng ".Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốt nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc mị nương, Xuống đất xin làm cỏ ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng đối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ" Chuyện trên đời đầy rẫy những bi kịch. Không chỉ một mình vũ Nương chúng ta còn bắt gặp hình ảnh người phụ nữa vì chịu không nổi sự đời mà buông tay, giống như nàng Kiều mười lăm năm lưu lạc, cuối cùng quyết định ra đi ở sông Tiền Đường hay một nàng Thị Kính vì bị vu oan mà đi vào của phật. Cuộc đời này phải chăng cũng giống như lời đại thi hào Nguyễn Du nói trong Truyện Kiều " Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau"
Câu chuyện kết thúc trong cảnh "Vũ nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xa cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện". Có lẽ đây là một cái kết rất nhân đạo đối với cuộc dời của người con gái đầy bi ai này, ở Thủy cung tuy thân côi giữa chốn bồng lai nhưng có lẽ nó còn hơn hẳn cuộc sống bị nghi oan, đau đớn ở chốn nhân gian kia nữa. Ai có thể bảo đảm rằng Vũ Nương trở về với thế gian lại không bị nghi oan một lần nữa? Hơn nữa, nàng chịu ơn Linh Phi cứu giúp, nào có thể trở về. Trước khi đi, nàng đã nói với chồng: "Thiếp cảm ơn đức Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa" Giống như một vết đinh, những vết thương mà Vũ Nương phải chịu đã không thể lành được, dù cho Trương Sinh có hối hận thế nào đi chăng nữa, nàng cũng đã ra đi. Và đó là một sự trừng phạt dành cho sự vow tâm của Trương Sinh .Cứ như thế kết thúc một đời người đầy bất hạnh của người phụ nữ thời phong kiến ác nghiệt ấy.
Nguyễn Dữ đã kế lại một câu chuyện dân gian bằng lời văn của mình. Đan xen vào câu chuyện là lòng nhân từ của ông, với nghệ thuật dựng chuyện thành công, miêu tả nhân vật sinh động, và có sự kết hợp hài hòa giữa tự sự với trữ tình, tác phẩm là một áng văn hay và đi sâu vào trong lòng người đọc, để rồi đế ngàn năm sau người đời vẫn còn khóc thương cho một nàng Vũ Nương bất hạnh, ví dụ như bài "Lại viếng Vũ Thị" của vua Lê Thánh Tông:
"Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói xương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ
Cung nước chi cho lụy đến nàng
Chúng quả đã đôi vàng nhật nguyệt
Giải oan chẳng lọ mấy đàng tràng
Đi qua mà bàn bạc chơi vậy
Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng"
Hình ảnh Vũ Nương sống mãi để nhắc nhở con người ta về những bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu do cái thói trọng nam khinh nữ của người xưa. Và lên án chiến tranh vô nghĩa, chính nó là một trong những lý do gây nên cuộc hôn nhân tan vỡ của Vũ Nương.
Khép lại trang giấy vẫn còn thấy cái gì đó động lại ở trong tim, nhói lòng vì một Vũ nương bất hạnh, vì một Trương Sinh bồng bột, và cón vì tất cả những người phụ nữ đã phải chịu một số phận bi thương:
"Đau đớn thay phận đàn bà
Trời sinh ra thế biết là tại đâu
Đau đớn thay phận dàng bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung."
Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top