Chương 7
"Nơi này tuyệt quá!" Florin gào lên, vung chiếc cốc như cây gậy chỉ huy của một vị nguyên soái, trỏ về phía những tấm thảm trang trí trên vách tranh. "Tuyệt không thể tả! Nhân danh cái bụng của Shallya, tôi đã quên mất cảm giác đặt chân lên đất liền sung sướng đến thế nào!"
"Làm tôi nhớ Bordeleaux quá," Lundorf nhận xét, khiến bạn mình phá lên cười sặc sụa trong cơn say.
Lorenzo nhấp thử thứ rượu mía lên men mà cái quán tồi tàn này dám gọi là brandy, rồi lập tức nhổ xuống nền đất ẩm. Lão bắt đầu hối hận vì đã không đi cùng Orbrant tìm mua nhu yếu phẩm.
Nhưng nếu đi thật, chắc chắn lão sẽ phải để Florin một mình với người bạn sĩ quan kia, và thế nào cậu chủ cũng lôi Lundorf vào một trò ăn chơi quá độ đủ sức lấy mạng cả hai. Mà Swamptown, dù có cả một khu trung tâm đầy nhà thổ và quán rượu, cũng chẳng phải nơi thích hợp để buông thả quá mức.
Họ tìm thấy khu định cư nhếch nhác này vào ngày hôm trước, đúng lúc đám tàu cướp biển coi cái bến cảng khốn khổ ấy là nhà phát hiện ra đoàn viễn chinh. Những chiếc thuyền buồm nhỏ bẩn thỉu, lúc nhúc bọn cướp đã áp sát đội tàu của Gorth khi cả ba đang đổi hướng tiến vào cảng. Nhưng một màn phô trương lực lượng đúng lúc, với những toán lính đánh thuê diễu qua boong, đã đủ khiến chúng không dám tới gần.
Chỉ cần trông thấy những hàng quân chỉnh tề, tua tủa kiếm thép và súng ống chết người, bọn cướp lập tức từ bỏ giấc mộng chiến lợi phẩm. Thất vọng, chúng lủi đi, lặng lẽ biến mất sau đường chân trời để tìm những con mồi dễ xơi hơn.
Thật may là như vậy. Bởi chỉ ít phút sau khi đoàn tàu cập vào cầu cảng tre ọp ẹp của Swamptown, đội quân đánh thuê đã chẳng còn tồn tại nữa. Thay vào đó là một đám đông chen lấn, xô đẩy như đàn thú tháo chạy, một lũ ô hợp không ai kiểm soát nổi, ào vào vòng tay nhơ nhớp của thị trấn đầy bệnh sốt rét, bỏ mặc những con tàu gần như không người canh giữ.
Đại tá van Delft đã khôn ngoan đợi cho đám lính thỏa mãn những nhu cầu cấp bách và cuồng nhiệt nhất rồi mới lùa chúng về các khu nhà nghỉ tạm được ông vội vàng sắp xếp. Chỉ sau khi hoàn tất việc ấy, ông mới cho các sĩ quan nghỉ phép, tha hồ tận hưởng những gì Swamptown có thể mang lại.
Swamptown. Khi đặt tên cho nơi này, dân cư ở đây đã thể hiện một sự thành thật đáng ngạc nhiên. Những túp lều và căn nhà tồi tàn được dựng lên hết sức thô sơ, đầy mối mọt, vách phủ kín nấm mốc nhớp nháp. Ngay cả những căn mới nhất cũng đã bốc mùi mục nát, chậm rãi phân hủy để trở về với lớp đất nơi chúng được dựng lên. Căn nào cũng nồng nặc mùi cây cỏ thối rữa, trộn lẫn với những thứ khác còn kinh tởm hơn.
Nhưng nếu không khí trong nhà đã ẩm thấp ngột ngạt, bên ngoài còn tồi tệ hơn nhiều. Sau những luồng gió biển trong lành suốt chuyến đi, hơi ẩm ở đây khiến người ta gần như nghẹt thở. Không khí đặc quánh như một màn sương mắc bệnh hen, lúc nào cũng rung lên bởi tiếng vo ve của vô số loài ruồi muỗi hút máu. Làn da chai sạn của Lorenzo tỏ ra quá cứng cáp đối với đám côn trùng, thành thử chúng quay sang mở tiệc trên người những bạn đồng hành của lão. Chỉ sau hai giờ đặt chân lên bờ, cả Florin lẫn Lundorf đã bị đốt đến ngứa ngáy, đau rát khắp người.
Swamptown. Ngay cả đường phố cũng như đang rỉ nước. Bùn và phân tham lam níu lấy từng bước chân, bám riết không chịu buông, ngấm vào lớp da ủng ẩm ướt rồi tràn cả qua miệng ủng.
"Này, cô hầu!" Florin gọi lớn, ngả người trên chiếc nửa thùng gỗ dùng làm ghế rồi gác đôi gót ủng bẩn thỉu lên bàn. "Mang thêm rượu cho ta và bạn ta!"
Vợ chủ quán, một người đàn bà gầy nhẳng có mái tóc bạc mà Florin đã lớn tiếng ví với tổ chuột, trao cho chồng ánh nhìn bực bội trước khi rót đầy hai chiếc cốc nữa.
"Trả tiền ngay," mụ bảo, đặt mạnh chúng xuống bàn đến mức rượu sóng sánh tràn ra ngoài.
"Dĩ nhiên là trả ngay rồi!" Florin hân hoan đáp. "Nhưng bà cứ tin chúng tôi cũng được. Chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ giàu to!"
"Vì vinh quang và vàng!" Lundorf gầm lên, chộp lấy cốc rượu.
"Vinh quang và vàng!"
Người đàn bà khinh khỉnh lau tay vào tạp dề rồi lại nhìn sang chồng. Lần này, ông ta nháy mắt đáp lại.
"Phải," mụ bắt đầu, cố gắng rõ rệt để biến gương mặt sắc như lưỡi rìu thành một thứ có thể tạm gọi là nụ cười. "Nhìn là biết hai cậu nhất định sẽ giàu có. Vàng đang nằm sẵn trong rừng, chỉ chờ người đủ can đảm đến nhặt về thôi."
"Chúng tôi cũng nghe thế." Lundorf gật gù ra vẻ thông thái. "Và nhân danh hòn dái trái của Sigmar, chúng tôi chính là những người có đủ can đảm!"
"Trông hai cậu đúng là như vậy," mụ đáp. "Dù sao thì, hết một crown vàng."
Lorenzo sặc rượu.
"Tất nhiên rồi, thưa bà," Lundorf nói, thò tay tìm túi tiền.
"Mỗi cốc." Mắt mụ thậm chí chẳng chớp khi nhân đôi giá.
"Đắt quá," Lorenzo cố ho khan nói ra, nhưng mụ đã quay sang lão, lần này với nụ cười hoàn toàn chân thành.
"Còn chê thì muộn rồi."
Lundorf lăn những đồng tiền vào đống bùn lẫn bia đổ nhầy nhụa trên mặt bàn, còn Lorenzo chỉ biết thở dài.
"Thêm rượu không, các cậu?" Người đàn bà hỏi, nhét tiền vào túi.
Nhưng trước khi bất cứ ai kịp trả lời, cánh cửa đan bằng cành cây của quán rượu đã bật tung. Những nhánh gỗ gãy răng rắc khi một đám đàn ông loạng choạng tràn vào.
"À à à, xem ai đây này," tên cầm đầu nhếch mép, lảo đảo tiến về phía Lorenzo với vẻ đe dọa. "Kẻ mang con daemon đến."
"Graznikov!" Florin reo lên, giọng bỗng hăng hái như tiếng sủa vui mừng của con chó săn vừa nhìn thấy con mồi. "Lại đây uống với chúng tôi nào!"
Có điều gì đó trong giọng nói ấy xuyên qua sự hung hăng của gã Kislev đang say rượu, khiến gã khựng lại. Graznikov nhìn đối thủ với vẻ dè chừng, trầm ngâm kéo chòm râu.
Trong thoáng chốc, tưởng như bất chấp men rượu và niềm phấn khích được lên bờ, nền hòa bình mong manh mà kỷ luật trên tàu đã buộc hai người duy trì vẫn có thể tiếp tục. Nhưng đúng lúc Graznikov còn đang lưỡng lự trước ngưỡng cửa bạo lực, Lundorf đã đẩy gã vượt qua nó.
"Tôi thấy đại úy còn dẫn theo cả lính của mình," Lundorf nói. "Lần này định đem thứ gì của họ ra thua cược nữa đây? Giày ủng à?"
"Hay quần dài?" Florin góp lời.
Gương mặt đỏ gay của gã Kislev lập tức tái nhợt. Sắc đỏ dần biến mất, chỉ còn hai đốm giận dữ bừng cháy trên má như lời cảnh báo.
"Bọn tao đến tìm thằng phù thủy Lorenzo," gã tuyên bố bằng giọng đe dọa trầm thấp. Đám lính phía sau lập tức rì rầm tán thành. Nghe chúng có vẻ háo hức hơn là tức giận, giống một lũ đàn ông đang chờ xem chó cắn nhau hơn là một đám đông thực sự định đánh chết người. Florin phần nào nhẹ nhõm, nhất là khi nhận thấy chưa tên nào có ý định rút vũ khí.
"Mày đang nói nhảm gì thế, đồ ngu?" anh hỏi, khó chịu nhích người trên ghế trong lúc đếm số lính của Graznikov. Một vài tên đã theo thủ lĩnh qua khung cửa võng xuống, tụ lại đứng bên cạnh gã. Ngoài cửa còn rất nhiều tên khác.
"Chúng mày đã nghe mệnh lệnh của viên chỉ huy rồi đấy," Florin gọi lớn, chủ yếu để đám lính nghe chứ không phải Graznikov. "Chúng mày cũng thấy ông ấy xử thằng điên trên chiếc Hippogriff thế nào rồi. Nhớ nó phải mất bao lâu mới chết ngạt, rồi cái xác cứ đung đưa trong gió ra sao không? Động đến người của tao ở đây, van Delft sẽ cho chúng mày nhảy đúng điệu ấy. Đừng có ngu."
Graznikov cau có nhìn đám thuộc hạ bắt đầu đứng ngồi không yên sau lời nhắc nhở. Trong bụng, gã âm thầm nguyền rủa sự hèn nhát của chúng.
"Đồ ngu!" Graznikov nhổ toẹt. "Mày mới ngu! Mày đưa thằng phù thủy này lên tàu, rồi nó mang con daemon tới. Con daemon dưới biển!"
Lần này, tiếng tán thành đã nhỏ hẳn đi. Có lẽ mỗi tên đều đang nhớ đến cái xác của kẻ sát nhân mà van Delft cho treo lên, bỏ mặc đến thối rữa. Cảnh tượng ấy chẳng đẹp đẽ gì, nhất là khi giòi bắt đầu nở dưới da xác chết.
"Vậy thì," Graznikov đổi chiến thuật, tiếp tục nói, "bọn tao sẽ không giết nó. Chỉ đánh cho một trận thôi. Để lần sau biết điều."
Gã chỉ ngón tay buộc tội vào Lorenzo, trong lúc thêm nhiều tên Kislev xô cửa tràn vào vì muốn nhìn cho rõ. Chúng chen qua đồng bọn, những kẻ cho đến lúc ấy vẫn chẳng mấy hào hứng tiến lại gần tên phù thủy.
Florin và Lorenzo nhìn nhau, rồi như cùng nhận được một tín hiệu, cả hai đồng loạt ngoái đầu nhìn chiếc cửa sổ phía sau.
"Ha!" Graznikov quát lên, đắc thắng ra mặt dù chỉ là giả tạo. "Chúng mày không dám chối."
"Chối những lời mê sảng của một thằng điên à?" Florin đáp trả. "Phí hơi làm gì? Lorenzo đã giúp bọn tao chống lại con quái vật trong lúc mày còn co rúm dưới hầm tàu."
"Láo!" Graznikov gầm lên, tiến thêm một bước.
"Đếm đến ba nhé?" Lorenzo lẩm bẩm vào miệng cốc. Florin khẽ gật, gần như không ai nhận thấy. Người hầu già gõ một ngón tay xuống bàn.
"À, tao hiểu rồi," Florin chế giễu đối thủ. "Vậy hóa ra mày cũng đã giúp bọn tao đánh con quái vật?"
Tiếng gõ thứ hai vang lên khe khẽ trên mặt bàn ướt sũng.
"Tao không mang nó tới," Graznikov gằn giọng, đôi mắt nheo lại đầy nguy hiểm. "Không. Thằng Loren... của mày..."
Nhưng tiếng gõ thứ ba đã vang lên. Hai người Bretonnia lập tức bật dậy. Chủ quán rú lên phản đối khi chiếc bàn bị hất mạnh về phía trước, hàng loạt cốc chén rơi xuống nền vỡ loảng xoảng, đúng lúc Lorenzo lao tới cửa sổ.
"Đi thôi!" Florin hét với Lundorf, chộp lấy vai bạn.
"Tôi đây!" Người chiến binh hét đáp rồi lao thẳng vào Graznikov.
Florin đã chạy được nửa đường tới cửa sổ mới nhận ra Lundorf không hoàn toàn hiểu ý mình. Anh lập tức quay phắt lại, vừa kịp thấy gương mặt kinh hoàng của Graznikov biến mất sau cú tấn công của Lundorf, trong khi đám Kislev đang khép vòng vây quanh hai người như những ngón tay siết thành nắm đấm.
"Chết tiệt," Florin nguyền rủa, câu chửi nghe giống một lời nhận xét hơn là tiếng hô xung trận. Rồi anh lao thẳng vào đám hỗn chiến.
Mục tiêu đầu tiên là một viên trung sĩ Kislev. Từ bộ râu rậm màu nâu đến cái bụng phệ mà cả chuyến hải hành cũng không làm nhỏ đi được, trông hắn giống gấu hơn người. Tuy thân hình tròn trịa vì mỡ, những bó cơ cuồn cuộn trên cẳng tay to bè cùng vẻ hung hăng trong mắt vẫn cho thấy sức mạnh đáng gờm.
Nhưng sức mạnh ấy chẳng giúp được hắn. Trước khi kịp tung cú đấm đầu tiên, ngón cái của Florin đã đâm tới, trúng đúng điểm mềm ngay bên dưới tai gã khổng lồ. Cả thế giới của hắn tan vỡ trong một vụ bùng nổ của đau đớn và ánh sáng chói lòa, rồi thân hình to lớn đổ gục.
Tên tiếp theo kịp quay người, tung ra một cú đấm nhanh như chớp, những khớp xương cứng ngắc giáng rắc một tiếng vào phần sụn mũi Florin. Nhưng trước cả khi giọt máu đầu tiên kịp chảy xuống, viên sĩ quan Bretonnia đã luồn vào sát người hắn, gần đến mức ngửi thấy mùi mồ hôi nồng nặc, rồi thúc đầu gối thật hiểm, khiến đối phương gập đôi người trong tiếng rú đau đớn.
Bỏ ngoài tai vị máu tanh như đồng và cảm giác nước mắt cay xè, Florin tiếp tục chiến đấu. Anh cúi tránh một cú đấm, chịu thêm một đòn vào vai. Một đầu gối giáng mạnh vào đùi khiến chân tê dại, đẩy anh loạng choạng lùi vào những bàn tay đang chực chộp lấy.
Nguồn sức mạnh điên cuồng của sự tuyệt vọng tràn khắp cơ thể. Florin thúc khuỷu tay ngược ra sau, đánh trúng thứ gì đó có thể là một khớp xương, cũng có thể là hộp sọ. Nhưng chưa kịp ra đòn tiếp theo, một nắm đấm đã thọc mạnh vào bụng, khiến tiếng thét đau đớn bật khỏi cổ họng.
Bất chấp cơn đau và cảm giác buồn nôn, anh vẫn ép mình lao tới tấn công. Trong thoáng chốc, tưởng như chỉ còn một mình giữa vòng vây đám Kislev. Nhưng rồi, sau khi giẫm mạnh lên đầu gối một tên và chọc vào mắt tên khác, Florin bất ngờ nhận ra mình đã đứng cạnh Lundorf.
Dù mặt mũi loang lổ những vệt máu đỏ tươi đến kinh người, gã lính Marienburg vẫn chiến đấu như con thú bị dồn vào đường cùng, gầm vang một âm thanh gần như là tiếng reo vui mỗi khi đánh vỡ hộp sọ hay bẻ gãy xương sườn kẻ địch.
Giữa những thân người đang chen chúc, Florin vẫn cảm thấy một nụ cười khủng khiếp bắt đầu lan trên mặt. Cơn hưng phấn dữ dội khiến hai má co lại, ngay cả khi một cú thúc khuỷu tay nện vào mặt, lập tức để lại vết bầm tím.
Giờ đây, anh đã vượt qua cả cảm giác đau đớn. Dù bị đám Kislev liên tục đấm đá, hất từ bên này sang bên kia, trong đầu chỉ còn nghĩ đến thái dương tiếp theo cần đập vỡ, đầu gối tiếp theo cần bẻ gãy hay ngón tay tiếp theo cần vặn trật.
Một ý nghĩ mơ hồ thoáng qua, chẳng khiến Florin bận tâm hơn màu tóc của cô hầu bàn: không biết mình có chết tại đây không, bị chính những người lẽ ra phải là đồng đội đánh đến chết.
Ít nhất họ cũng đã gần tới cửa. Ít nhất có thể tận dụng khung cửa làm lối thắt, buộc kẻ địch phải lần lượt chen vào thay vì vây đánh từ mọi phía. Ít nhất...
Lundorf bất ngờ rên lên kinh ngạc rồi đổ sầm vào Florin như một thân cây bị đốn hạ. Cả hai loạng choạng nghiêng sang bên, và đúng lúc anh đỡ lấy bạn, gót bàn tay của ai đó đã bổ tới, giáng nát chiếc mũi vốn đã bị thương.
Nhìn thấy lợi thế, đám Kislev lập tức tràn lên. Nhưng chỉ một giây sau, chúng đột ngột khựng lại, lùi dần rồi cuống cuồng chạy khỏi quán.
Florin, gần như phát điên vì cơn hưng phấn chiến đấu, lớn tiếng chế giễu.
"Còn đợi gì nữa? Đồ hèn! Lũ đàn bà! Lại đây, tao sẽ đập vỡ đầu chúng mày!"
Nhưng người duy nhất đáp lời lại là Lorenzo. "Đi thôi, cậu chủ," lão nói. "Giúp tôi đỡ Lundorf."
"Ông đã biến đi đâu thế?"
"Lo đường thoát cho chúng ta. Cậu ngửi thấy không?"
Chiếc mũi dập nát đang đầy máu và nước mũi khiến Florin chẳng ngửi được gì. Nhưng anh vẫn cảm nhận thấy nó, một cảm giác rát buốt nơi cuống họng. Chỉ cần từng nếm qua một lần, chẳng ai có thể nhầm lẫn vị khói khét lẹt của mái tranh đang cháy với thứ gì khác.
Ngước nhìn lên, anh thấy những dải khói trắng đang len qua lớp mái tranh, hơi nóng của ngọn lửa âm thầm tích tụ sức mạnh trước khi bùng thành trận hỏa hoạn dữ dội.
"Đi thôi," Florin nói. Cùng Lorenzo kéo Lundorf đi giữa hai người, anh chạy khỏi ngọn lửa đang bảo đảm cho cuộc rút lui của họ.
Buổi tập hợp điểm danh sáng hôm sau chẳng vui vẻ gì. Nó diễn ra tại một bãi bốc dỡ hàng ở cảng Swamptown, địa điểm mà van Delft đã phải tốn không ít tiền hối lộ mới sử dụng được. Dù vị đại tá nhân từ chọn thời điểm giữa buổi sáng, đủ muộn để binh lính nghỉ ngơi nhưng cũng đủ sớm để tránh cái nóng thiêu đốt giữa trưa, đám lính tụ tập trước mặt ông vẫn thảm hại chẳng khác gì những xác chết vừa được hồi sinh.
Ít nhất hai người trong số ấy có lý do chính đáng. Màn sương sốt rét và thứ rượu rẻ tiền độc hại của Swamptown đã làm được điều mà suốt chuyến hải hành không làm nổi. Thi thể họ giờ được khâu gọn trong những tấm vải buồm, còn đám ruồi xanh béo múp đã bắt đầu bay đặc quanh đó.
Van Delft, nổi bật trong bộ lễ phục quân đội bằng vải dạ xanh lá viền vàng phẳng phiu, phớt lờ tiếng ruồi vo ve, cũng như những tiếng rên bị kìm nén và vài cơn nôn ọe bất chợt, những dấu hiệu sống duy nhất còn sót lại từ đội quân tả tơi trước mặt.
Chỉ một ngày một đêm đã đủ biến cả bọn thành đám người thảm hại thế này. Một ngày một đêm. Mà thằng pháp sư chết tiệt ấy thậm chí còn chẳng thèm đến điểm danh.
Có lẽ đến lần thứ một nghìn trong sự nghiệp quân ngũ dài lâu và đủ mọi thăng trầm, viên chỉ huy lại ước giá mình đã tiếp tục phục vụ trong quân đội Hoàng Đế. Chỉ huy binh lính chính quy dễ dàng hơn biết bao.
Nhưng thôi, quỷ tha ma bắt những chuyện ấy đi, ông kiên quyết nghĩ. Ta chẳng hối tiếc điều gì cả.
Dù sao, ít nhất đám người lùn vẫn giữ được phong độ. Quả thực khó tin, nhất là khi nghĩ đến lượng bia chúng đã uống. Cả đội đứng thành ba hàng chỉnh tề, khẩu đại bác lùn, bè của chúng được đặt ngay bên cạnh. Ánh nắng đục ngầu xuyên qua lớp bùn bụi lấp lánh trên nòng pháo, sáng lên trên những khẩu súng và cả những lưỡi rìu.
Viên chỉ huy không khỏi ấn tượng. Ngay cả râu ria của chúng cũng được chăm sóc cẩn thận, tỉa gọn thành những khối vuông vức bên dưới đôi mắt đang ánh lên vẻ khoái trá khinh thường đám đồng đội loài người.
Graznikov, người đội trưởng cuối cùng, loạng choạng đọc ra thứ tạm gọi là báo cáo. Nếu van Delft vẫn còn giữ chức vụ trong quân đội Đế Chế, và Graznikov là một sĩ quan chính quy dưới quyền, thì lúc này gã Kislev mắt lờ đờ hẳn đã phải ngồi trong phòng giam quân luật chờ chịu cơn thịnh nộ của cấp trên. Không phải vì những lời đồn cho rằng gã đã phóng hỏa thị trấn, gây ra vụ cháy vẫn đang âm ỉ giữa đống đổ nát của hàng chục túp lều. Cũng chẳng phải vì đã xúi giục thuộc hạ hành hung hai sĩ quan đồng đội.
Không. Điều tồi tệ nhất trong vụ việc của Graznikov là gã đã dẫn hai mươi người đánh hai người, vậy mà vẫn thua.
Dù đây là lính đánh thuê, van Delft vẫn từng cân nhắc cho gã ăn roi. Hoặc giáng chức.
Thậm chí có thể âm thầm trừ khử.
Nhưng trước mắt, viên chỉ huy chỉ lạnh lùng gật đầu cho lui. Ông đợi tên sĩ quan chẳng ra gì ấy lảo đảo trở về đơn vị rồi mới ưỡn ngực bước tới trước đội quân ô hợp.
Trước mặt ông là chừng một trăm hai mươi người, hơn kém đôi chút. Họ đến từ mọi miền của Old World, từ phương bắc chìm trong mùa đông vĩnh cửu đến phương nam ngập nắng quanh năm. Nhưng giờ đây, nhờ sự hòa trộn kỳ lạ giữa lòng tham và cảnh cùng quẫn, tất cả đều trở thành đồng đội. Thành anh em.
Có thể họ chưa nhận ra, nhưng van Delft thì biết. Một khi tiến vào rừng rậm, những cái tên Kislev, Tilea, Bretonnia, Marienburg hay người lùn sẽ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ chỉ còn là những người lính. Không hơn, không kém.
Và nếu chúng không chịu đoàn kết... Viên chỉ huy thầm nghĩ. Chà, nếu không thể đoàn kết lúc sống thì chắc chắn chúng sẽ nằm chung với nhau lúc chết.
Ý nghĩ ấy khiến ông nở một nụ cười hài hước đầy u ám trước khi bắt đầu phát biểu.
"Thưa các quý ông," ông mở lời, giọng vang xa một cách tự nhiên nhờ nhiều năm luyện tập. "Chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc phiêu lưu vĩ đại. Chỉ hơn một tuần nữa, đoàn tàu sẽ lại nhổ neo, men theo bờ biển xuống phía nam cho đến khi gặp một dòng sông. Và ở cuối dòng sông ấy chính là mục tiêu của chúng ta.
"Mà mục tiêu ấy, như tất cả đều biết, chính là vàng. Có lẽ còn nhiều vàng hơn bất cứ ai trong chúng ta có thể tiêu hết trong cả đời."
"Tôi nghi lắm!" Có kẻ hét lên, khiến đám đông bật những tiếng cười khe khẽ.
"Ta đã nói là 'có lẽ' mà!" Van Delft lập tức đáp trả, khiến những tràng cười vang lớn hơn.
Chỉ có đám người lùn không cười. Vừa nghe nhắc đến của cải, gương mặt chúng đã trở nên đăm chiêu tập trung.
Tốt, viên chỉ huy nghĩ. Sự nghiêm túc chính là thứ các đội quân đánh thuê thường thiếu.
"Đi xuyên rừng rậm sẽ vô cùng vất vả. Rừng rất dày, và có thể ẩn chứa nhiều hiểm họa. Ta giao các anh cho sĩ quan của mình. Trong năm ngày tới, họ sẽ chuẩn bị cho các anh đối mặt với những gì đang chờ phía trước."
Đến đây, ông không khỏi liếc về phía Đại úy Castavelli cùng khoảng hai chục lính Tilea đứng sau. Hoàn toàn trái ngược với những bộ giẻ rách đầy vết bẩn và đường khâu vá mà phần lớn đồng đội gọi là quân phục, đám Tilea diện quần áo được may cắt thanh lịch từ những tấm vải màu sắc lộng lẫy. Ngay cả tên nghèo nhất cũng có một dải thắt lưng da rộng, chạm trổ công phu để đeo kiếm mảnh, cùng chiếc mũ rộng vành mềm cắm đầy những chiếc lông vũ trắng dài.
Tận sâu trong trái tim sùng kính Sigmar cứng rắn của mình, van Delft gần như mong chờ được xem rừng rậm sẽ biến đám công tử chải chuốt ấy thành bộ dạng gì.
"Ta cũng xin nhắc lại rằng dù những người tài trợ ở quê nhà đã hào phóng chi trả thức ăn và chi phí đi lại, vũ khí vẫn là trách nhiệm của từng người. Vì thế, kể từ bây giờ, tất cả vũ khí sẽ được kiểm tra hằng ngày. Nào, còn ai muốn hỏi gì trước khi chúng ta đưa hai người đồng đội đã khuất về với lòng đất không?"
Ông dừng lại một lát, nhưng thứ duy nhất đáp lời là tiếng ruồi vo ve.
"Được rồi. Đại úy d'Artaud, sáng nay trông cậu đúng là đang tràn đầy niềm vui sống. Cho lính giải tán đi."
Florin, toàn thân cơ bắp đau ê ẩm như bị giã nát, từng khúc xương đều có cảm giác như đã gãy, loạng choạng bước lên phía trước rồi khàn giọng rít ra một từ duy nhất: "Giảiiiiiiii... tán!"
Chừng ấy thôi cũng gần như vượt quá sức chịu đựng của anh.
Cửa hàng ấy chẳng giống một tòa nhà cho lắm, mà giống một quầy hàng dần dần phát triển thành cửa hiệu. Hai bức tường hai bên vốn do những người dựng cửa hàng sát cạnh xây nên, còn mái lợp lá cọ xào xạc phía trên trông cứ như đã tự mọc lên từ lúc nào chẳng biết.
Dù chật chội, được trú dưới bóng râm ấy vẫn là một sự nhẹ nhõm. Những mùi kỳ lạ đến khó chịu bên trong cũng là cái giá nhỏ phải trả để được tạm thoát khỏi cái nóng giữa trưa.
Mà những mùi ấy quả thực khiến người ta bất an. Rõ ràng người bán hàng nghiền giã những loại cao thuốc và dược phẩm dùng để kiếm sống ngay trong căn phòng này. Từng chùm thảo dược và rau củ đủ màu được buộc thành dây, treo lủng lẳng trên trần, tạo thành cả khu rừng nguyên liệu tươi. Xen giữa chúng, chỗ này là xác thằn lằn khô, chỗ kia là bàn tay khỉ, cùng những thứ khác còn kỳ quái hơn.
Phía sau đám nguyên liệu treo hỗn độn là chiếc cối đá khổng lồ của chủ tiệm. Nó nằm sát bức tường cuối phòng như một tượng thần nguyên thủy, còn ông chủ mồ hôi đầm đìa đứng nghiền thuốc, chẳng khác gì một tư tế đang chuẩn bị vật hiến tế khi pha chế món hàng Florin đặt mua.
"Không biết thứ này vào rừng có còn hiệu quả không nhỉ?" Florin hỏi Orbrant, chủ yếu để kiếm chuyện trò hơn là vì thực sự nghi ngờ. Cả hai đã thử thứ thuốc bôi ấy từ hôm trước, bôi lên một cánh tay và để nguyên cánh tay còn lại. Đám muỗi lập tức để lại trên phần da không được bảo vệ những vết đốt đau điếng, như một lời chứng thực hết sức thuyết phục cho hiệu quả của thuốc đuổi côn trùng.
Nhưng nỗi khó chịu ấy chẳng là gì so với thân thể bầm dập và những bó cơ rách tổn thương vẫn khiến Florin phải đi khập khiễng như một ông già tám mươi. Ngay cả lúc này, gần một tuần sau trận ẩu đả, toàn thân anh vẫn phủ những mảng bầm xanh tím và xám tái như bầu trời trước cơn giông.
Giá mà có thể thả cho lính của mình trút hết cơn phẫn nộ lên đám Kislev thì hả dạ biết bao, anh nghĩ. Hả dạ thật, nhưng ngu xuẩn.
Thực ra, những ngày sau trận đánh, Florin nhận thấy đám đối thủ cũ đã bắt đầu nhìn mình với sự kính trọng dè chừng, gần như chuyển thành thiện cảm. Một số thậm chí còn mời anh và Lundorf uống rượu, dù chúng cười nghiêng ngả khi rượu trào ra từ đôi môi vẫn còn tê dại của anh.
Ngay cả Graznikov cũng lân la tới bắt tay, nhưng vẻ vui vẻ của gã giả tạo chẳng khác gì một chiếc crown bằng chì khi đem so với sự chân thành thô ráp của thuộc hạ.
"Tôi tin nó sẽ có tác dụng được một thời gian, thưa đại úy," Orbrant nói, cắt ngang dòng suy nghĩ. "Vả lại, những người bạn của tôi ở đây bảo rằng vào rừng rồi, chúng ta sẽ biết quý trọng bất cứ chút dễ chịu nào kiếm được."
"Tôi không biết ông có bạn ở đây đấy." Florin nhướng mày, cử động nhỏ ấy lập tức gây ra một cơn đau âm ỉ.
"Tôi gặp thêm vài người anh em mới ở ngôi đền phía trên bến cảng. Họ đều là người tốt, dù cũng như tất cả chúng ta, họ đã từng lầm đường."
"Lầm đường thế nào?"
"Đó là chuyện riêng của họ, thưa ngài."
Florin quay sang nhìn viên trung sĩ, lại phải cố xua đi cảm giác rằng người lính chuyên nghiệp nghiêm nghị này mới là kẻ nên khoác áo choàng đại úy, chứ không phải bản thân mình.
"Tôi vẫn thường tự hỏi, Orbrant, vì sao ông lại rời bỏ giới tu sĩ. Tôi đoán giáo đoàn hẳn tiếc khi mất ông."
"Không ai là không thể thay thế," Orbrant đáp, trầm ngâm vuốt cái đầu cạo nhẵn. "Còn lý do tôi ra đi... chà, chuyện ấy chẳng ảnh hưởng gì đến ngài hay binh lính."
"Tôi biết. Nhưng vẫn tò mò."
Orbrant lại im lặng, nhìn chủ tiệm đặt chày nghiêng sang một bên, lau trán rồi bắt đầu lục tìm giữa những dây nguyên liệu đang treo. Một lát sau, tìm được thứ thảo dược cần thiết, ông ta nhổ nước bọt vào hai bàn tay bằng động tác hết sức thành thạo rồi quay lại giã thuốc.
"Tôi đến đây để hành hương," Orbrant nói, giọng nhỏ đến mức gần như chìm trong tiếng đá nghiền lên đá. "Ngài thấy tôi vẫn cạo trọc đầu chứ? Đó là vì tôi chưa bao giờ từ bỏ lời thề của mình. Tôi chỉ tạm thời rời khỏi giáo đoàn mà thôi."
Florin kiên nhẫn chờ trong lúc Orbrant mím môi, nhìn chăm chăm bức tường phía xa, như thể hy vọng tìm thấy ở đó những lời mình đang kiếm.
"Tôi cần lao mình vào vùng hoang dã này như con chim ưng lao vào khoảng không. Tôi muốn chứng minh đức tin của mình đối với Sigmar chân thành và mạnh mẽ chẳng khác gì niềm tin của con chim ưng vào luồng không khí đang nâng đôi cánh nó. Ngài hiểu không?"
"Không," Florin thành thật thú nhận. Trước sự ngạc nhiên của anh, Orbrant ngửa đầu phá lên cười, để lộ hàm răng trắng sáng giữa gian phòng tối. Đây là lần đầu tiên Florin thấy người chiến binh ít nói ấy cười, thậm chí chỉ mỉm cười thôi cũng chưa từng. Vẻ kinh ngạc hiện rõ trên mặt anh càng khiến Orbrant cười lâu hơn.
"Tôi thích ngài đấy, thưa đại úy," cuối cùng ông tâm sự. "Ngài là tên vô lại thật thà nhất tôi từng gặp."
"Cảm ơn," Florin khịt mũi, cố coi đó là một lời khen. Hai người cùng im lặng thoải mái trong chốc lát, rồi anh nói: "Nhân tiện, ông không cần lúc nào cũng gọi tôi là 'ngài' đâu."
"Tốt nhất vẫn nên như vậy. Đám lính của chúng ta chẳng phải những kẻ mộ đạo. Thiếu sự dẫn dắt của Sigmar, họ rất cần những nghi thức và vẻ ngoài trang trọng để giữ vững tinh thần. Vì thế, cả ngài lẫn tôi đều phải diễn tốt vai trò của mình."
"Nhưng khi chỉ có hai chúng ta..."
"Không, đừng bận tâm nữa. Tôi sẽ gọi ngài là 'ngài', còn ngài cứ gọi tôi là 'trung sĩ'. Tin tôi đi, như vậy tốt hơn."
"Được thôi, trung sĩ. Vậy có lẽ ông sẽ kể tại sao mình lại cần lao vào khoảng không ấy đến thế?"
"Đáng tiếc," Orbrant đáp, gương mặt đã trở lại vẻ nghiêm nghị thường thấy trên sân tập, "chúng ta không có thời gian. Nhìn kìa, ông chủ tốt bụng đây đã làm xong hàng, còn chúng ta phải trở về nơi đóng quân. Chúng ta có hẹn với thương nhân Ali. Ngài nhớ chứ?"
"Nhớ," Florin đồng ý, không hỏi thêm nữa và đau đớn chống người đứng dậy.
Ali Ibn Zephier kiên nhẫn tựa vào bức tường gạch bùn đang mục nát của khu nhà lính Bretonnia. Đứng trong bóng râm nhà kho cũ, ông bất động như một con thằn lằn, chỉ có đôi má phúng phính liên tục chuyển động trong lúc nhai quả chà là.
Thỉnh thoảng, đôi mắt dưới vành khăn quấn đầu rộng lại đảo qua đảo lại. Khi thì nhìn từ đầu phố này sang đầu phố kia, lúc hướng về những cột buồm trong cảng, rồi lại dừng trên nhóm thuộc hạ đang đứng canh chiếc xe đẩy chở hàng hóa của chủ.
Tấm chăn phủ hàng đã nóng ran dưới ánh mặt trời Lustria thiêu đốt, nhưng Ali vẫn chẳng lo lắng. Ông buôn bán nghề này đã đủ lâu để nỗi sợ nhường chỗ cho sự thận trọng, rồi đến lượt sự thận trọng cũng biến thành thái độ phó mặc số phận gần như bất cần.
Ít nhất ở phương diện này, chiếc lưỡi sắc bén của bà vợ cũng đã giúp ông không ít.
Vừa thấy Florin và Orbrant xuất hiện ở góc phố, Ali nhổ hạt chà là đang nhai rồi bước tới đón. Hai ống tay áo rộng thùng thình rủ xuống khi ông dang tay chào mừng.
"Các bạn của tôi!" ông gọi, giọng ngân nga đầy vẻ quyến rũ nhà nghề. "Hôm nay hai vị khỏe chứ? Trông hai vị tuyệt lắm."
Florin nở nụ cười giễu cợt, khiến gương mặt bầm dập lại đau nhói.
"Thật sao?"
"Tất nhiên rồi. Bạn cũ lúc nào trông chẳng tuyệt."
"Nhưng chúng ta mới quen nhau có một tuần," Orbrant nói.
Ali thầm thở dài. Đám man di này chẳng hiểu gì về phép lịch sự.
"Đúng như ông nói, bạn cũ của tôi."
"Ông có thuốc súng chưa?" Florin hỏi, cắt ngang màn khách sáo.
"Dĩ nhiên. Nhưng thật đáng tiếc, thưa quý ngài cao quý, tôi phải xin giá cao hơn lần trước chúng ta nói."
"Ý ông là cao hơn mức giá đã thỏa thuận," Florin chỉnh lại, thong thả bước về phía xe hàng.
"Đúng như ngài nói," Ali lập tức đồng tình, không hề lúng túng. "Nhu cầu hiện nay cao chưa từng thấy."
"Cao đến mức nào?"
"Bốn mươi crown một thùng."
"Ông đang đùa đấy à?"
"Thật đáng tiếc." Ali nhún vai, bắt đầu mất kiên nhẫn trước sự thiếu lịch thiệp của gã man di.
Florin thở dài. Số tiền thu từ những tay súng lẽ ra đủ mua bốn thùng thuốc súng đen hảo hạng. Nhưng với mức giá này, họ còn chẳng mua nổi hai thùng.
"Chúng ta đã bắt tay thỏa thuận hai mươi bốn crown một thùng."
"Đúng vậy, nhưng sau đó tình hình đã thay đổi. Tôi xin thề rằng nếu ngài không mua với giá bốn mươi, chắc chắn sẽ có người khác mua."
"Tôi muốn nói riêng với ngài một chút," Orbrant lên tiếng rồi dẫn Florin ra ngoài tầm nghe. "Tôi có tiền mua thuốc súng. Chúng ta nên lấy càng nhiều càng tốt."
"Ông có bảy mươi crown à?"
"Có."
Trong thoáng chốc, Florin phải cố cưỡng lại ý muốn hỏi làm thế nào một tu sĩ sám hối, người dường như chỉ sở hữu chiếc búa chiến, con dao cạo và bộ áo choàng cũ sờn, lại có được số tiền lớn đến vậy.
"Chúng ta sẽ lấy biên nhận. Đến cuối cuộc viễn chinh, tôi sẽ thu hồi số tiền ấy từ phần chiến lợi phẩm được chia cho đơn vị."
"Chà, vâng. Được thôi. Cảm ơn, trung sĩ."
Orbrant gật đầu, đợi Florin dẫn đường quay lại gặp thương nhân.
"Được rồi, Ali. Nể tình bạn bè, tôi sẽ trả ông ba mươi crown mỗi thùng."
"Ước gì tôi có thể nhận lời." Người thương nhân vò hai bàn tay, mừng vì cuối cùng vị khách cũng chịu cố gắng tỏ ra lịch sự. "Nhưng nếu vợ tôi biết, bà ấy sẽ khép chặt hai chân suốt cả tháng mất."
"Phải, đàn bà chẳng bao giờ biết điều cả."
"Ngay cả khi bán cho ngài ba mươi tám crown một thùng, bà ấy cũng sẽ mắng tôi là thằng ngu, đem của hồi môn của các con gái ra phung phí."
"Còn nếu tôi trả quá ba mươi hai, đám lính sẽ giết tôi vì tội ăn cắp tiền của chúng ngay khi chúng tôi đặt chân vào rừng."
Hai người đứng cau mày nhìn nhau một lúc, dường như cùng buồn bã trước sự tàn nhẫn của thế gian đã đẩy hai người bạn cũ đến bước đường bế tắc như vậy.
Ali là người lên tiếng trước.
"Tôi có một cách có lẽ vẫn xoay xở được," ông nói, nghiêng người tới gần đầy vẻ bí mật. "Ngoài thuốc súng, tôi còn vài thứ khác. Những vũ khí có sức mạnh khủng khiếp."
"Ông quả là người có tài xoay xở," Florin gật đầu, đầy ấn tượng.
"Vâng." Ali khiêm tốn gật đầu rồi nhấc một góc tấm chăn phủ hàng. Ngoài những thùng thuốc súng tròn mập còn có hai chiếc hộp vuông nằm sát nhau trong xe đẩy. Người thương nhân mở nắp một hộp, để lộ ba hàng quả cầu sắt xếp ngay ngắn trong lớp rơm lót dày.
Chúng lớn bằng những quả dứa chín, nhưng đen nhánh, nhẵn bóng và gần như chẳng có đặc điểm gì đáng chú ý. Thứ duy nhất phá vỡ vẻ tròn trịa hoàn hảo là những đoạn dây cháy chậm màu trắng nhô ra trên đỉnh, nom như những bím tóc nhỏ.
"Nhìn đây," Ali nói, nhấc một quả lên với vẻ điệu bộ của nhà ảo thuật vừa lôi được con thỏ ra khỏi chiếc mũ rỗng của một kẻ hoài nghi. "Bomba! Mang từ tận Cathay tới đấy. Ở đó người ta dùng chúng để săn rồng."
"Thế thì chắc bên trong ẩm hết rồi," Orbrant lẩm bẩm.
Florin lúc này đã hoàn toàn nhập vào điệu đối đáp đầy chất thơ của những cuộc mặc cả ngoài chợ, liền quay phắt sang ông.
"Thật đáng xấu hổ, trung sĩ," anh trách. "Người bạn của chúng ta đây đời nào bán hàng kém chất lượng. Tôi chỉ tiếc là chúng ta không đủ tiền mua những thứ ấy."
"Xin lỗi ngài," Orbrant đáp.
"Nhưng ngài có thể mua mà." Ali mỉm cười sung sướng. "Với riêng ngài, tôi sẵn lòng tặng nguyên một hộp. Vợ tôi không biết đến những báu vật này, nên tôi sẽ tự bù khoản lỗ bằng giá bốn mươi crown mà ngài trả cho mỗi thùng thuốc súng."
"Đám lính của tôi sẽ khóc khi biết chúng tôi đã nghèo đến mức nào," Florin than thở, khép lại cuộc thương lượng.
"Chúng sẽ còn khóc nhiều hơn nếu vào rừng mà chẳng có vũ khí," Ali tốt bụng nhận xét. "Dù chắc cũng không khóc được lâu."
"Chắc chắn rồi. Vậy thì, bạn Ali, có lẽ ông sẽ chỉ cho tôi cách sử dụng mấy quả bomba này trong lúc trung sĩ của tôi cố vét nốt những đồng vàng cuối cùng."
"Rất hân hạnh." Ali rạng rỡ đáp, dù trong lòng chẳng vui chút nào. Đáng lẽ ông phải biết mọi chuyện không bao giờ có thể dễ dàng đến vậy. "Nhưng e rằng chúng ta không thể đốt dây cháy ở đây, nếu không sẽ làm hỏng những căn nhà xung quanh."
"Ta dùng cái giếng cũ phía sau doanh trại đi. Nước ở đó hôi thối quá, chẳng ai dùng được nữa."
"Than ôi, nước sẽ làm tắt dây cháy mất."
"Ta thả nó vào cái xô."
"Nhưng cái xô sẽ bị phá hủy."
"Chẳng sao cả," Florin quyết định. "Nào, bạn tôi, đi đốt thử một quả xem sao."
Nói rồi, anh chọn một quả bom và dẫn Ali đang rầu rĩ đi về phía giếng. Dĩ nhiên, nó cũng có thể hoạt động thật, người thương nhân tự nhủ. Đâu phải ông biết chắc nó sẽ không nổ.
Giá như khách hàng cứ chịu giữ hàng cho đến ngày ra trận, Ali nghĩ khi cả hai đến gần cái giếng. Như thế họ sẽ tránh được biết bao thất vọng.
Ít nhất là những nỗi thất vọng kéo dài.
"Đến nơi rồi," Florin nói, tung qua tung lại quả bom đã chọn giữa hai tay rồi cúi nhìn xuống giếng. Chiếc xô đang chậm rãi mục nát, treo trên một sợi xích rỉ sét, cách miệng giếng xây bằng gạch đá đang sụp lở chừng bốn feet. Thả quả bom vào đó xem ra chẳng khó chút nào.
"Không biết ông bạn cũ của tôi có hộp đánh lửa không nhỉ?"
"Dùng thứ này thì hơn," Ali đáp, đưa cho anh một hộp ngà nhỏ đựng diêm lưu huỳnh. "An toàn hơn để tia lửa bắn tung tóe."
"Tất nhiên." Florin gật đầu nhận lấy. Đặt quả bom trên thành giếng, anh quẹt một que diêm, rồi khum tay che ngọn lửa khỏi làn gió nóng ẩm trước khi cúi xuống đốt dây cháy chậm.
Nó lập tức bén lửa, rít lên đầy ấn tượng. Đoạn dây trắng dần chuyển đen phía sau đốm lửa sáng rực đang đều đặn bò xuống dưới.
Nâng quả bom nhẹ nhàng như thể thân sắt của nó mong manh chẳng khác gì vỏ trứng, Florin nghiêng người qua thành giếng rồi thả khối thuốc nổ vào chiếc xô.
"Tốt nhất chúng ta nên lùi ra xa một chút," Ali khuyên, và cả hai cùng bước lùi. Họ nín thở chờ đợi khi tiếng dây cháy yếu ớt từ dưới giếng vọng lên, chập chờn rồi tắt hẳn.
Cả hai đợi thêm một lúc.
Ali cảm thấy một giọt mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng, bất giác nuốt khan.
"Có lẽ dây cháy bị lỏng..." ông bắt đầu giải thích, thì hoàn toàn không có dấu hiệu báo trước, quả bom phát nổ.
Sức mạnh vụ nổ bị không gian chật hẹp của cái giếng dồn nén và khuếch đại. Không còn đường thoát nào khác, ngọn lửa gầm vang phóng thẳng lên trời, tạo thành một ngọn núi lửa hủy diệt, hất tung vô số mảnh kim loại và gạch đá vỡ vụn lên cao.
"Nó nổ thật rồi," Ali há hốc miệng, nhưng Florin quá ấn tượng nên chẳng nghe ra vẻ nhẹ nhõm trong giọng ông. Ngay cả khi chấn động đầu tiên đã qua, khói vẫn tiếp tục phụt lên từ miệng giếng cháy đen. Nở nụ cười sung sướng, Florin thận trọng bước lại gần, hoàn toàn không nghe thấy tiếng người la hét cùng những bước chân hối hả của lính mình vì hai tai vẫn còn ù đặc.
"Bạn Ali!" Florin hét lớn, cố át tiếng ù trong tai. "Giờ tôi đã hiểu tại sao lời nói của ông lại đáng tin đến thế."
Người thương nhân vẫn đủ tỉnh táo để ngậm ngay cái miệng đang há hốc vì kinh ngạc, rồi vội vã bước tới bên Florin.
"Có lẽ ngài muốn mua nốt số bom còn lại?" ông bắt đầu hỏi bằng giọng ngây thơ, chẳng buồn để ý những mảnh vụn vẫn đang rơi lộp bộp quanh mình.
"Không, một hộp là đủ rồi," Florin nói, vỗ vai ông.
"Nhưng..."
"Nào, trung sĩ của tôi sẽ trả nốt tiền cho ông."
Ali thầm nguyền rủa chính mình. Giá mà biết bất cứ quả bom chết tiệt nào trong số ấy thực sự có thể nổ...
"Có lẽ tôi chưa nói rõ..." ông lại thử.
Nhưng Florin chỉ mỉm cười.
"Có chứ," anh đáp. "Ông nói rất rõ rồi. À, Trung sĩ Orbrant tới kia. Cùng khoảng hai chục lính của tôi nữa. Nhìn xem những lưỡi kích của họ sắc đến mức nào, bạn Ali."
"Vâng, quả đúng là vậy." Người thương nhân khổ sở gật đầu khi Orbrant trao cho ông một túi tiền, khoản giao dịch mang lại lợi nhuận thuần túy đến năm trăm phần trăm. Ali giấu túi tiền vào trong áo rồi lớn tiếng thúc giục thuộc hạ nhanh chân lên, lặng lẽ rời khỏi khu nhà với dáng vẻ của một người đàn ông hoàn toàn suy sụp.
Ngay cả ý nghĩ rằng những quả bomba còn lại rất có thể cũng vô dụng như hai quả đầu tiên ông từng thử cũng chẳng an ủi được bao nhiêu. Chỉ riêng vụ nổ vừa rồi đã đủ để ông nâng giá lên gấp đôi.
Hai ngày sau, Ali vẫn còn hậm hực khi đoàn viễn chinh của van Delft được tập hợp lại và lùa lên tàu, tiễn đưa bởi một đám gái điếm, lái buôn rong, ăn mày và móc túi thờ ơ, chẳng buồn tỏ ra nhiệt tình. Dù đích đến của đoàn quân được cho là bí mật, cả thị trấn đều biết họ sắp đi đâu.
Họ sẽ tiến vào những khu rừng rậm phương nam.
Tiến vào cõi lãng quên.
"Phí phạm quá," Ali lẩm bẩm vào tối hôm ấy, tâm trí bị ám ảnh bởi hình ảnh tiền vàng và áo giáp của đoàn viễn chinh đang dần mục nát giữa những bộ xương đã bị gặm sạch thịt.
"Phải," vợ ông bất ngờ đồng tình. Trong đầu mụ lại tràn ngập hình ảnh những chàng trai trẻ da rám nắng đang mang theo số của cải ấy bước vào chốn diệt vong giữa rừng rậm Lustria. "Phí phạm thật."
Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top