dật sử

Mùa hạ năm Bính Ngọ, đoàn thuyền đưa công chúa Huyền Trân xuống phương Nam gặp gió thuận. Người trong đoàn coi đó là điềm lành, nhưng Huyền Trân từ lâu đã thôi tin những thứ xảy ra thuận theo ý mình là điềm báo cho bất cứ điều gì. Biển buổi sáng sáng ánh bạc, tới trưa thì xanh đục, những dãy núi chạy sát bờ hết hiện ra lại chìm vào hơi nước. Nàng đứng dưới mái che mỗi ngày một lúc, ghi nhớ từng hình dạng đường đất dù chẳng ai yêu cầu.

Trong cung ngày trước, trí nhớ của nàng hiếm khi phải làm việc một mình. Ngày kỵ được giữ trong sổ, phẩm trật có người nhắc, lụa ra khỏi kho bao nhiêu cuộn đều có kẻ đếm, những lần ai đau bệnh hay một câu vua từng ban cũng chẳng thiếu người ghi lại.

Qua khỏi Bố Chính, nàng bắt đầu thấy việc nhớ lấy một cửa sông hay một mỏm núi bằng chính khối óc mình quan trọng một cách khó hiểu. Như thể từ đây trở đi hễ nàng quên thì rất có thể chẳng còn người nào ở bên cạnh đủ lâu để gợi nàng nhớ nữa.

Những người theo nàng từ Thăng Long phản ứng với phương Nam bằng cơ thể trước khi kịp than thở thành lời. Da họ nổi rôm dưới nhiều lớp áo, tóc dễ ẩm, phấn trôi khỏi trán, mấy nữ quan lớn tuổi vừa lên bờ đã kín đáo xin nước. Huyền Trân chịu nóng khá hơn họ, song đôi hài vốn sạch sẽ lúc xuống thuyền chẳng mấy chốc đóng một vành bùn đỏ ở mép. Nàng bước qua khoảng sân lát gạch trong buổi tiếp đón đầu tiên mà không để ý đến nó cho đến khi bắt gặp một người đàn bà đang nhìn chằm chằm xuống chân mình.

Người ấy đứng ở phía sau hàng người chờ nghênh tiếp, cách những vị trí nổi bật một khoảng vừa đủ để không bị xem là thất lễ. Áo sẫm màu, tóc giữ thấp ở gáy, vàng đeo ít hơn phần lớn những phụ nữ chung quanh. Ánh mắt từ đôi hài lấm đất chuyển lên mặt Huyền Trân rất thong thả, không lảng đi như một người vừa bị bắt gặp đang soi xét. Nàng không biết tên người ấy vào lúc đó, chỉ nhớ cảm giác khó chịu vì bị nhìn vào đúng phần mình đã hớ hênh mà quên giữ gìn.

Đêm ấy người phiên dịch nhắc đến Tapasi khi giải thích những người Huyền Trân sẽ còn phải gặp. Tên nàng lẫn vào nhiều tước hiệu và quan hệ họ hàng, chỉ riêng hai tiếng ấy ở lại. Huyền Trân lờ mờ biết được sau những lời phiên dịch vụng về của sứ giả rằng người đàn bà ấy cũng là vợ của nhà vua.

Người ta nói Tapasi đến từ bên kia biển, đã sống tại đây đủ lâu để căn nhà của nàng, người hầu của nàng, quan hệ của nàng với những gia đình lớn trong vùng đều thuộc về mảnh đất này hơn cả nơi nàng sinh ra. Huyền Trân không hỏi sâu. Nàng đã được đưa tới đây như một phần của mối bang giao, hiểu quá rõ việc kẻ khác hỏi quê quán một người đàn bà đôi khi chỉ là cách lịch sự hơn để hỏi nàng thuộc về ai.

Một chiếc hộp gỗ nhỏ xuất hiện trong số quà đưa tới phòng nàng sáng hôm sau. Không tên người gửi, bên trong chỉ có dầu thơm và một miếng vàng mỏng khắc những nét chữ Huyền Trân không đọc được. Nàng thử mở nắp lâu hơn một chút rồi mới khép lại. Hương toả ban đầu ngọt, sau khi lưu trên da mới bật ra một vị đắng như gỗ quý đã gặp lửa nhưng chưa cháy thành than. Nàng sai người đem trả. Tới tối chiếc hộp biến mất, sáng hôm sau lại nằm trên bàn, lần này nắp được xoay sang hướng khác như thể ai đó muốn nàng biết chuyện nó trở lại là cố ý.

Huyền Trân giữ lại.

Ba ngày sau nàng gặp Tapasi dưới một dãy hành lang vừa qua mưa. Nước còn đọng giữa các viên gạch, hơi nóng từ đất bốc lên mang theo mùi lá dập. Tapasi cúi chào, ánh mắt dừng rất ngắn ở cổ tay Huyền Trân, nơi nàng đã thử một giọt dầu trước khi ra khỏi phòng.

Huyền Trân hỏi bằng thứ tiếng Chăm còn vụng:

- Nàng muốn biết ta có dùng hay không?

Tapasi không hề tỏ vẻ ngạc nhiên vì Huyền Trân nói được mà không tỏ ra lắp bắp. Nàng đáp lại bằng một nụ cười ranh mãnh.

- Ta muốn biết công chúa có giữ lại hay không.

Huyền Trân nhìn nàng hồi lâu, lâu hơn phép tắc lịch sự cần thiết, rồi khẽ bước qua. Đến đêm, trong lúc một cung nữ chải tóc, nàng chợt nhận ra mình vẫn nhớ chính xác giọng Tapasi đã hạ xuống ở chữ cuối như thế nào. Huyền Trân cho rằng cung cách của Tapasi thân mật quá mức cần thiết pha lẫn chút trêu ghẹo nàng. Sự khó chịu dấy lên theo Huyền Trân tới tận cuối ngày.

Những tháng đầu ở Đồ Bàn bị nghi lễ chia nhỏ đến mức Huyền Trân khó biết một ngày bắt đầu hay kết thúc từ đâu. Nàng thay y phục, học cách cúi chào ở những dịp khác nhau, nghe người ta gọi các vị thần bằng những cái tên nàng chưa thuộc, tập phân biệt lời nói dùng trong nghi lễ với thứ tiếng người hầu trao đổi ngoài sân. Có nhiều điều nàng được giảng trước khi sang đây hoá ra không đúng hẳn.

Người Đại Việt thường nói Chiêm Thành như thể một nước chỉ có một cách sống, một cách thờ, một triều đình thống nhất dưới một trật tự nàng có thể học như học phép tắc trong cung Trần. Sống ở đây mới thấy người từ vùng này cười về lệ vùng khác, những người có quan hệ với biển nhìn đất liền khác những kẻ sống gần ruộng, và trong cùng một gian điện đôi lúc có tới ba thứ tiếng đi qua tai nàng.

Một sáng, Huyền Trân theo đoàn người trong cung tới một ngôi đền. Lễ kéo dài giữa mùi hương và đá nóng. Nàng nhìn thứ nước dùng trong nghi thức chảy qua bề mặt linga, tụ vào phần lòng của bệ đá rồi thoát ra một rãnh nhỏ, bàn tay người hầu phía dưới hứng lấy bằng một vật đựng bằng kim loại. Trên mặt vật ấy có mấy hàng chữ. Huyền Trân mới chỉ bắt đầu biết phân biệt đâu là thần danh, đâu là những công thức thường xuất hiện trong lời dâng cúng, nhưng khi chiếc đĩa được chuyển ngang qua trước mặt, nàng bỗng nhìn thấy một cụm nét quen thuộc. Một nét móc xuống ở cuối, một đường xiên mảnh và một chỗ cong giống hệt những gì từng nằm trên miếng vàng trong chiếc hộp gỗ.

Nàng nhìn nhưng chẳng đủ để hiểu gì.

Ở phía sau đền, một phần bệ đá còn nằm thành nhiều khối chưa ghép. Trên mặt khuất của từng khối có những vạch nhỏ trông giống chữ nhưng không phải chữ. Tapasi đi ngang đúng lúc Huyền Trân đang cúi xem, bèn nói đó là dấu thợ được đánh từ trước để khi đá chuyển đến nơi người ta biết mảnh nào phải nằm cạnh mảnh nào. Khi bệ dựng xong, những dấu ấy sẽ bị ép vào trong, không còn ai tới hành lễ nhìn thấy nữa.

Huyền Trân đưa ngón tay qua một vạch mảnh.

- Vậy khắc chỉ để giấu đi sao?

Tapasi đứng cạnh nàng, bóng hai người đổ chung lên mặt đá nóng.

- Khắc để khỏi ghép sai thôi.

- Nhưng sau đó chẳng ai biết chúng từng ở đó.

- Thợ sẽ biết.

Tapasi nói rất bình thản, không biết Huyền Trân sẽ còn nhớ câu ấy về nhiều năm sau nữa.

---

Tapasi hiếm khi giải thích cho nàng. Huyền Trân ban đầu tưởng đó là lạnh nhạt, sau nhận ra người kia chỉ không có thói quen giúp người khác hiểu những gì họ có thể tự hiểu. Một lần Huyền Trân cố tình dùng sai tên một món vật trước mặt nàng, đợi nàng chỉnh lưng. Tapasi nghe xong vẫn tiếp tục uống nước.

Cuối cùng nàng phải hỏi:

- Nàng có biết ta nói sai không?

- Biết.

- Sao không nhắc ta sửa?

Tapasi nhấc mắt khỏi chén.

- Vì nàng biết mình nói sai.

Từ hôm ấy Huyền Trân thôi thử lòng nàng bằng những trò nhỏ nhặt như thế.

Sự thân thuộc đến trước tình yêu bằng con đường khó nhận ra hơn. Huyền Trân bắt đầu phân biệt được vẻ mặt Tapasi khi vui thật với khi chỉ tỏ ra vui. Tapasi học được rằng công chúa phương Bắc càng tức giận thì giọng càng thấp xuống. Trong một buổi tiếp những người đàn bà thuộc các gia đình lớn, ai đó nói điều Huyền Trân chưa nhớ đủ tiếng để hiểu hết, nhưng tiếng cười quanh bàn cho nàng biết phần còn lại. Nàng cũng cười, không để lộ mình hụt mất một nửa câu. Ở phía bên kia phòng, Tapasi tháo chiếc vòng khỏi cổ tay trái và đặt cạnh chén.

Hôm sau, người đàn bà đã nói câu ấy gửi quà lễ đến xin lỗi vì một chuyện tưởng chừng như không liên quan đến nàng. Gia đình bà ta tự nhận đã vô tình thất lễ trong cách xếp chỗ ngồi. Huyền Trân nhận quà, cho người về, chiều đến mới tìm gặp Tapasi.

Chiếc vòng đã được đeo sang tay phải.

Huyền Trân nhìn một lúc rồi nói:

- Vòng đẹp.

Tapasi đưa mắt theo ánh nhìn nàng, vẻ mặt rất bình thường.

- Cũ rồi.

Đó là lần đầu Huyền Trân thấy rõ một điều về người kia mà nàng thích đến mức gần như thấy xấu hổ - Tapasi không bao giờ tự tay mình khiến người khác mất mặt. Nàng không thích lộ ra sơ hở đó.

Từ lúc ấy sự tò mò đổi chất. Huyền Trân bắt đầu để ý móng tay Tapasi ngắn hơn những phụ nữ trong cung, vành tai trái có một vết rách mảnh do từng đeo vật nặng, cổ tay phải sẫm hơn một chút vì nắng. Khi mất kiên nhẫn, Tapasi thường bỏ bớt một món trang sức đang đeo. Khi giận, đôi tay lại trở nên hoàn toàn bất động. Những điều ấy tự in vào trí nhớ Huyền Trân như nước thấm qua đất, đến khi nàng nhận ra mình biết quá nhiều thì đã không còn cách giả vờ chẳng quan tâm.

Đổi lại, Tapasi cũng bắt đầu nhìn Huyền Trân bằng một sự chú ý không còn hoàn toàn vô tư như lúc trước. Một lần người phiên dịch cố lược đi nửa câu của một sứ giả vì nghĩ lời lẽ quá thô đối với công chúa. Huyền Trân đợi ông ta nói xong rồi hỏi lại đúng từ đã bị bỏ bằng tiếng Chăm. Gian phòng im ắng một nhịp. Người phiên dịch tái mặt đi. Nàng chỉ yêu cầu ông dịch nguyên văn chứ không quở phạt.

Khi bước ra, nàng thấy Tapasi đứng cuối hành lang.

- Nàng nghe ra ông ta đã bỏ một câu?

- Nàng nghĩ ta không nghe ra?

Tapasi nhìn nàng rất lâu, như thể đang đắn đo suy nghĩ một điều gì đó.

- Ta tưởng nàng sẽ giả vờ không biết.

Huyền Trân nói:

- Ta cũng tưởng nàng rất thích người biết giả vờ.

Khóe miệng Tapasi nhếch lên. Nàng cười nhẹ nhưng không hồi đáp.

---

Chế Mân đối đãi với Huyền Trân rất tử tế, và điều đó làm đời sống nàng phức tạp hơn sự bất hạnh giản đơn mà những câu chuyện về sau thích gán cho một cuộc hôn nhân chính trị. Ông nhiều tuổi hơn nàng, thói quen là nghe người khác nói hết câu, thích ngựa và những sản vật đi bằng đường biển, đôi khi đem một thứ gỗ hay một loại hương tới hỏi nàng đoán nguồn gốc. Huyền Trân không yêu ông theo cách nàng sẽ yêu Tapasi nhưng cũng không căm ghét. Trong một đời khác, nếu chỉ phải làm vợ ông mà không phải gánh theo đất đai, triều đình và cái nhìn của hai xứ, nàng nghĩ có lẽ họ vẫn sống với nhau tương đối yên ổn.

Một hôm Chế Mân đặt ba mẩu hương trên khay, hỏi nàng mẩu nào từ vùng núi phía tây, mẩu nào đã qua thuyền buôn từ xa. Huyền Trân đoán sai. Tối ấy nàng mang chuyện hỏi Tapasi. Người kia đốt từng mẩu một, không nhìn nhãn đi kèm mà để khói tự trả lời. Mùi thứ nhất lên nhanh rồi tắt, mẩu thứ hai cháy chậm, mẩu cuối giữ vị ngọt lâu hơn trên đầu lưỡi.

- Hai mẩu đầu bị đổi tên - Tapasi nói.

- Nhưng vua nói khác.

- Vua muốn thử nàng.

Đôi mắt Huyền Trân mơ màng.

- Còn nàng thì sao?

Tapasi tách một thớ gỗ nhỏ bằng móng tay, đưa sát mũi Huyền Trân.

- Ta cũng vậy.

- Khác gì chứ?

- Ta muốn biết nàng có quay lại hỏi ta hay không.

Hai người nhìn thấu nhau qua làn khói mỏng. Huyền Trân thấy rõ lúc ấy thứ làm mình muốn người đàn bà này đã không còn là vẻ đẹp xa lạ của một chủng tộc nàng không quen. Nàng muốn một bộ óc có thể bẫy mình mà vẫn đủ thú vị để nàng tự nguyện bước vào.

Một tối sau lễ, Huyền Trân đau đầu vì tóc bị vấn quá chặt. Cung nhân tháo hai cây trâm rồi lui ra lấy nước. Tapasi vẫn còn trong phòng, ban đầu vì một lý do nào đó mà cả hai về sau đều quên lãng. Nàng đứng phía sau Huyền Trân, chạm vào cây trâm còn lại rồi chờ một nhịp. Không thấy cản trở, nàng liền rút nó ra.

Tóc Huyền Trân rơi xuống vai.

Trong gương đồng, gương mặt hai người mờ dần dưới ánh đèn. Tapasi dùng hai tay gỡ phần tóc mắc vào móc vàng. Đầu ngón tay lướt qua gáy nàng lâu hơn mức một người chỉ sửa tóc cần làm.

Huyền Trân nhìn hình bóng người kia trong gương.

Tapasi cũng nhìn lại.

Không ai hôn ai đêm ấy. Nhưng khi cung nữ trở về, Tapasi đã đứng cách nàng xa như lúc đầu, còn Huyền Trân phải ngồi yên để người khác không thấy nàng dường như hồi hộp lạ lùng đến phần da sau gáy như dựng đứng lên.

Sau này, giữa rất nhiều đêm họ đã hôn nhau, Huyền Trân vẫn nhớ đêm ấy. Cái đêm chẳng có gì xảy ra mà nhịp tim nàng đập liên hồi đến khó chịu.

---

Đến năm thứ hai, Huyền Trân đã thôi đếm số ngày kể từ lúc rời Đại Việt. Nàng biết tháng nào gió đổi ngoài biển qua độ ẩm trên tường, biết giờ nào bóng tháp trườn tới mép sân, phân biệt được tiếng chân của vài người hầu thân cận trên hành lang. Những món đồ mang theo từ Thăng Long cũ dần, vải bạc màu, gương xước, hương quê nhà hết trước khi nàng nhớ ra mình cần phải tiếc nuối. Người ta vẫn gọi nàng bằng một danh vị trang trọng, nhưng trong đời sống thường ngày nàng không còn hoàn toàn là người mới tới.

Tình yêu với Tapasi cũng không có một ngày bắt đầu đủ rõ để đánh dấu thành kỷ niệm. Nếu buộc phải tìm, Huyền Trân chỉ thấy một loạt vật nhỏ hiện ra.

Chiếc hộp dầu thơm, cụm chữ chưa đọc được trên miếng vàng, dấu thợ nằm ở mặt khuất của đá, một chiếc vòng đổi từ tay này sang tay kia, cây trâm được tháo khỏi tóc nàng. Ham muốn của nàng đến sau khi trí óc đã quen với việc chờ người kia xuất hiện.

Tapasi biết Huyền Trân xoay chiếc nhẫn ở ngón giữa mỗi khi sắp phải nói điều không thật lòng. Huyền Trân biết nàng ta lúc mất kiên nhẫn sẽ tháo một món vàng. Một sáng, Huyền Trân đang tiếp người của triều đình, vừa xoay nhẫn vừa bảo chưa đọc bức thư gửi từ phương Bắc. Ở cuối phòng, Tapasi cúi xuống uống nước để che khóe miệng.

Tối ấy Huyền Trân hỏi nàng cười gì.

Tapasi cầm tay nàng lên, dùng ngón cái xoay chiếc nhẫn đúng một vòng.

Ngày hôm sau Huyền Trân đổi nhẫn sang tay kia.

Một tuần sau nàng bỏ hẳn thói quen ấy.

Mùa mưa, thương nhân từ Java đem tới một tấm vải màu sẫm, dưới ánh đèn khi thì đỏ như rượu, khi lại gần như nâu đen. Tapasi mang nó sang cho Huyền Trân xem. Mưa dày đến mức mái hiên phía đối diện biến thành một màn nước. Trong phòng chỉ còn tiếng mưa và tiếng vải trượt qua tay. Huyền Trân hỏi tên cách dệt. Tapasi nói một từ nàng nghe không rõ.

- Nói lại đi.

Tapasi lặp nhanh hơn lần trước.

Huyền Trân biết bị chọc, liền nắm lấy cổ tay nàng.

Tapasi nhìn xuống bàn tay đang giữ mình rồi ngẩng lên, không rút lại.

Một bóng người hầu lướt qua phía sau rèm. Cả hai cùng nghe thấy, cùng đứng yên. Chiếc vòng ở tay Tapasi bị kẹp giữa hai cổ tay, cạnh vàng cấn vào da Huyền Trân. Lẽ ra nàng nên buông trước khi người ngoài quay lại. Tapasi hẳn cũng nghĩ vậy, vì vẻ mặt nàng vẫn tỉnh táo một cách đáng ghét.

Không ai nhường ai.

Nụ hôn đầu tới gần như một hình thức tiếp diễn của cái nhìn ấy. Tapasi bước vào khoảng cách còn lại, Huyền Trân nghiêng đầu, rồi môi họ chạm nhau giữa tiếng mưa lớn đến mức mọi âm thanh nhỏ nhắn hơn đều được tha thứ. Nụ hôn không vội, song cũng chẳng mềm mại như những chuyện thơ nàng đã từng đọc. Hai người đều mang quá nhiều ý muốn riêng để biết cách dịu dàng ngay từ đầu. Huyền Trân nhớ đầu ngón tay Tapasi siết cổ tay mình, nhớ mùi vải mới trộn với dầu tóc, nhớ một góc tấm vải bị nắm nhăn dưới tay. Đến khi người kia lùi ra, bàn tay nàng vẫn còn giữ nguyên chỗ cũ.

Tapasi nhìn xuống cổ tay Huyền Trân, nơi vàng đã để một đường đỏ.

- Đau sao?

Huyền Trân cười, vừa trêu vừa đáp:

- Chưa đủ.

Lần này Tapasi cũng cười, rồi cúi xuống hôn đúng nơi cạnh vàng vừa cấn.

Từ đó, sự thân mật chen vào đời họ qua những đường kín đáo giống hệt mọi việc khác trong cung. Tapasi không bao giờ mang món vòng phát tiếng ấy khi tới phòng Huyền Trân vào buổi tối. Về sau nàng còn bỏ cả những thứ có khả năng va nhau trước khi bước qua hành lang cuối cùng. Huyền Trân dần học cách chờ đợi, nếu phía ngoài có tiếng vàng mảnh rung lên, người sắp vào không phải Tapasi. Nếu hành lang hoàn toàn im mà bóng đèn ngoài rèm chao nhẹ, nàng sẽ biết là người ấy trước cả khi cửa mở.

Một chiếc lược đi từ phòng này sang phòng kia, hộp hương liệu trở về trống rỗng, tấm vải được mượn với lý do xem cách dệt, không ai trong họ đóng cửa sớm hơn lệ cũ hoặc đuổi người hầu ra quá thường xuyên. Những buổi ở bên nhau đôi khi dài cả canh mà chẳng cần một câu nói gì. Tapasi nằm đọc, Huyền Trân xem thư, bàn chân hai người chạm nhau dưới mép vải rồi cứ để vậy. Chính những giờ không xảy ra gì khiến đời sống chung trở thành thứ nguy hiểm nhất, bởi ham muốn còn có thể được gọi là một cơn, còn thói quen thì đã bắt đầu giống một đời.

Tapasi không trở nên hiền dịu hơn khi yêu. Huyền Trân cũng chẳng mong nàng giống vậy.

Một nữ nhạc công trẻ được gọi tới chỗ Tapasi nhiều lần trong một tháng. Cô gái đẹp theo kiểu khiến người khác nhìn hai lần, tiếng hát thấp, vòng chân kêu rất nhẹ khi di chuyển. Huyền Trân chẳng hề hỏi. Hai tháng sau trong một buổi tiếp sứ đông người, nàng yêu cầu chính cô ta chơi một khúc dài mà nàng từng biết người này không giỏi. Đến đoạn cuối, nữ nhạc công đánh sai, phải quỳ xuống xin thứ lỗi.

Tapasi ngồi đối diện suốt buổi không nhìn Huyền Trân.

Tối hôm ấy, chiếc vòng cổ của nàng nằm dưới gối công chúa.

Huyền Trân đeo nó đi ngủ.

Sáng ra vàng để lại một vệt đỏ nơi xương cổ. Khi nàng đem trả, Tapasi nhìn dấu ấy một lúc rồi đặt đầu ngón tay lên.

- Nàng trẻ con quá.

Huyền Trân giữ cổ tay nàng, móng tay bấm sâu hơn mức cần thiết.

- Vậy đừng để ta phải làm những trò trẻ con đấy nữa.

Tapasi nhìn nàng rất lâu trước khi nghiêng người hôn đúng vệt đỏ vừa chạm. Huyền Trân ghét việc nàng thắng thế bằng cách ấy. Nàng kéo người kia xuống gần hơn, tiếng thở mắc giữa hai bờ môi, ngón tay vướng vào những sợi tóc ở gáy. Buổi sáng ngoài rèm vẫn sáng dần, người hầu có thể tới bất cứ lúc nào, và chính nguy cơ ấy làm cử động của cả hai trở nên gấp gáp. Khi Tapasi luồn tay qua eo nàng, Huyền Trân giữ cổ tay nàng lại, bắt nàng ngước lên.

Cả hai đều biết đó là một trò quyền lực nhỏ nhặt.

Cả hai đều thích.

Những đêm họ thực sự ở cùng nhau, ham muốn hiếm khi ồn ào. Tapasi biết chỗ nào dưới cằm khiến Huyền Trân mất bình tĩnh nhanh nhất, biết phải dừng ở đâu để sáng mai cổ áo che được dấu. Huyền Trân biết cách bàn tay mình đặt sau lưng khiến Tapasi thôi giữ vẻ điềm tĩnh, biết người kia ghét những cái chạm hời hợt nhưng mềm mại hẳn khi bị giữ chắc trong lòng. Họ học cơ thể nhau giống cách từng học cung đình. Quan sát, thử, nhớ, không đòi hỏi quá nhiều. Có lúc người ngoài chỉ cách một lớp rèm, khiến cả hai phải giữ im đến mức khoái cảm phải giữ lại thành những cái siết trong lòng bàn tay, răng cắn vào vai thay vì bật tiếng, hơi thở chôn vùi trong tóc.

Một sáng sau đêm Tapasi ngủ lại, Huyền Trân chuẩn bị vào lễ thì người kia bất chợt giữ cằm nàng, dùng ngón cái lau rất chậm ở mép môi. Một vệt màu sẫm hiện trên đầu ngón tay. Chất nhuộm quanh mắt Tapasi đã dính sang miệng nàng từ đêm trước.

Huyền Trân nhìn dấu ấy.

- Nàng định mang ta ra điện à? - Tapasi hỏi.

- Có ai biết đó là nàng đâu.

Tapasi rướn người, khẽ hôn lên môi Huyền Trân một lần nữa.

- Ta biết.

Tapasi lau sạch rồi mới thả cằm nàng ra. Suốt buổi lễ hôm ấy, Huyền Trân nhiều lần phải cắn mặt trong môi để khỏi nhớ ngón tay vừa miết qua đó, hay bờ môi dịu dàng đã áp lên môi nàng.

Sau mỗi lần như thế, Huyền Trân thường thấy Tapasi trở lại bình thường nhanh hơn mình. Nàng ghét điều đó cho đến khi phát hiện một dấu hiệu khác. Tapasi có thể giữ giọng bình thản, mặt nghiêm, nhưng lúc ham muốn chưa rút hết thì ngón út bên tay phải thường cong lại rất nhẹ. Huyền Trân nhìn thấy lần đầu, ghi nhớ, rồi một hôm giữa buổi lễ cố ý lướt ngón tay qua cổ tay nàng khi đi ngang.

Ngón út ấy cong lại.

Tapasi không quay đầu.

Tối hôm ấy Huyền Trân chờ tới gần hết canh mới thấy nàng tới. Vừa vào phòng, Tapasi đặt món trang sức cuối cùng xuống bàn rồi hỏi:

- Vui không?

Huyền Trân vẫn ngồi trước bàn, giả vờ xem thư.

- Chuyện gì?

Tapasi bước tới, lấy lá thư khỏi tay nàng, đặt xuống.

- Nếu còn làm thế trước mặt người khác, ta sẽ để nàng ngủ một mình một tháng.

Huyền Trân ngẩng lên, thấy sự bực bội thực sự trong mắt người kia, bỗng bật cười.

- Nàng làm được sao?

Tapasi cúi xuống sát đến mức môi gần chạm tai nàng.

- Không được.

Đó có lẽ là lời thú nhận gần nhất với tình yêu mà họ từng có trong những năm tháng ấy.

Họ tin nhau theo một cách chẳng hề trong sạch. Huyền Trân biết Tapasi giữ những lá thư nàng không muốn người khác thấy. Tapasi biết Huyền Trân truyền về phương Bắc những tin nàng sẽ không bao giờ đưa cho mình đọc. Mỗi người đều nắm đủ thứ để làm đau người kia. Chính vì thế họ ít hỏi những câu buộc đối phương phải nói dối.

Một lần Tapasi để thư chưa niêm trên bàn. Huyền Trân chỉ đọc được vài hàng khi đi ngang trước lúc có người bước vào. Chiều ấy Tapasi hỏi lá thư có thú vị không.

Huyền Trân không ngẩng đầu khỏi đôi hoa tai đang chọn.

- Ta không đọc.

Tapasi không vạch trần lời nói dối đó.

Ba ngày sau, Huyền Trân để lại một bức thư từ Thăng Long đúng nơi ấy.

Tapasi không chạm vào.

Tối đến nàng chỉ nói:

- Nàng gấp sai chiều.

Huyền Trân nhìn nàng, rồi bật cười đến mức phải quay mặt khỏi ánh đèn.

Tapasi ngồi xuống cạnh, nàng cũng nhoẻn miệng cười.

Về sau, thứ trở lại đeo bám Huyền Trân dai dẳng nhất lại là những giờ chẳng có chuyện gì đáng để nhớ đó.

---

Vua chết vào cuối một mùa nắng chưa kéo qua đầu. Đến trưa, sân gạch vẫn hắt nóng lên tận hiên. Chiều xuống, những bóng tháp ngoài thành còn đứng hiên ngang trên nền trời trắng bạc, chỉ riêng nội cung đã đổi sang một nhịp khác. Tin chưa đi hết các cửa thì trang sức sáng màu đã được tháo khỏi những người đàn bà, nhà nhạc đóng lại, bếp gần điện vua đổi thức ăn, dầu thơm biến mất khỏi những gian phòng cần giữ tang. Huyền Trân nhìn trật tự ấy hình thành nhanh hơn mọi lời truyền và nghĩ triều đình đã chuẩn bị cho ngày vua chết từ khi ông còn sống, giống như người ta dựng một cái khuôn rỗng trước rồi chờ cái chết vừa khít rơi vào.

Nàng khóc Chế Mân mà không cần phải gượng. Điều ấy làm nàng kiệt sức hơn một nỗi buồn giả dối. Ông chưa từng là người dễ ghét, và những năm sống cạnh nhau đã để lại đủ ký ức không thể gạt đi chỉ vì giờ đây người nàng yêu nhất là một người khác. Huyền Trân vẫn nhớ bàn tay ông từng đặt mẩu gỗ thơm vào lòng nàng, giọng cười rộ lên khi nàng gọi sai tên chim, những buổi nói chuyện về đường biển khi họ đã quá mệt để giữ lễ nghi phép tắc. Đám tang cho phép nàng khóc tất cả những điều ấy công khai. Nhiều năm sau nàng mới biết được phép đau trước mặt người khác là một đặc ân lớn đến mức nào.

Ngoài một sân xa hơn, người ta bắt đầu chuẩn bị voi trắng cho đoàn sứ sẽ đi về phương Bắc báo tang. Buổi sáng Huyền Trân nhìn những người giữ voi dội nước lên lưng nó, lau quanh tai, kiểm lại dây buộc rồi dẫn qua một khoảng sân khác. Cái chết của chồng nàng đã có người lo toan, có nghi lễ để đưa tin về quê hương. Chỉ riêng người còn sống là nàng vẫn chưa biết mình rồi sẽ thuộc về nơi nào.

Tapasi mất khỏi tầm mắt nàng gần trọn năm ngày. Những lời đồn về hỏa thiêu len qua đám người Đại Việt, mỗi người kể một kiểu, nhưng Huyền Trân chú ý nhiều hơn tới những thay đổi nhỏ quanh mình. Người từng ít xuất hiện bỗng sai lễ tới hỏi thăm, hai thị nữ theo nàng từ Thăng Long bị đổi chỗ, lính canh cửa Nam thay phiên vào một giờ lạ. Số phận nàng đang được bàn tính trong những căn phòng không có nàng.

Đêm thứ năm Tapasi tới muộn. Tang phục làm nàng trông trần trụi hơn vì thiếu vàng, thiếu hương. Dưới ánh đèn, Huyền Trân thấy má người kia hõm đi một ít. Tapasi ngồi xuống, lấy từ trong áo chiếc hộp gỗ năm xưa. Dầu đã mất từ lâu, chỉ còn miếng vàng khắc những nét Huyền Trân chưa từng đọc được.

Huyền Trân nhìn chúng hồi lâu. Nàng đã gặp chúng ở đồ dâng trong đền, ở cạnh một dòng chữ khác trên kim loại, từng nhiều lần tự hỏi tại sao cứ nhìn thấy lại nhớ tới chiếc hộp này.

Nàng hỏi:

- Chữ này là gì?

Tapasi nhìn miếng vàng rồi đáp:

- Tên ta.

Huyền Trân lần ngón tay trên nét khắc, bỗng thấy một cơn giận bùng lên không rõ phương hướng. Nàng đã thuộc những nơi trên cơ thể người này mà cả chồng nàng cũng chưa từng thấy, thuộc cả cách Tapasi thở khi bị hôn quá lâu, vậy mà hình dạng tên người kia tới đêm nay mới biết.

Tapasi đưa tay định lấy lại chiếc hộp.

Huyền Trân khép nắp trước.

- Nếu ta chết, nàng sẽ giữ thứ gì của ta?

Tapasi nhìn nàng rất lâu. Một chút mệt mỏi đi qua vẻ mặt rồi biến mất.

- Đừng bắt ta trả lời khi nàng còn ngồi trước mặt ta.

Huyền Trân kéo người kia lại trước. Cơn sợ đã sống trong nàng năm ngày qua cuối cùng tìm được hình dạng dưới tay. Huyền Trân đặt tay lên cổ Tapasi. Da nàng nơi đó thường có sợi vàng mảnh nhưng đêm ấy trống và mát.

Tapasi tháo tang phục của Huyền Trân từng lớp, gấp sang bên như mọi lần, nhưng lúc cúi xuống cổ thì dừng lâu hơn. Mùi hương ở điện tang đã bám vào tóc, da, vải đến mức lấn cả mùi quen thuộc của hai người.

Huyền Trân không đẩy nàng ra.

Những trò thử xem ai buông trước, ai lộ ham muốn trước bỗng trở nên vô nghĩa. Họ kéo nhau lại gần như những kẻ đã mệt nhoài vì phải chừa khoảng trống.

Đêm ấy sự cẩn thận của họ gần như tàn nhẫn. Tapasi hôn vào những nơi áo sáng mai sẽ che khuất. Huyền Trân cắn rất khẽ vành tai có vết rách mà nàng đã nhớ từ ngày đầu. Cơ thể hai người đã quen nhau tới mức mỗi cái chạm đều biết đường đi nước bước, song chính sự quen thuộc ấy làm Huyền Trân ưu phiền.

Nàng nhìn Tapasi rất gần, cố ghi lại một khuôn mặt vẫn còn đang sống động trước mình, trong khi ở đâu đó bên kia tường, một vị vua đã chết được hàng trăm người lưu giữ lại bằng cách tôn thờ. Nàng bỗng nghĩ tới những dấu ghép đá nằm ở phía sau ngôi đền năm xưa. Một khi các khối đã được dựng đúng chỗ sẽ chẳng ai còn nhìn thấy dấu. Nếu mai kia bệ bị tháo ra, rất có thể chỉ người thợ từng làm mới biết chúng đã thuộc về nhau thế nào.

Tên Tapasi cũng vậy.

Cơn cuồng nộ của Huyền Trân khiến nàng muốn học lại mọi thứ dù đã thuộc lòng, bàn tay đi dọc phần lưng quen, môi tìm đúng nơi người kia sẽ run rẩy như thể lặp đủ nhiều lần thì thân thể có thể chống lại việc bị thời gian xóa nhoà.

Khi tiếng chân ngoài rèm vọng qua, Tapasi chôn mặt vào vai nàng để giữ im sau cơn khoái cảm. Huyền Trân ôm chặt lấy nàng, lòng bàn tay cảm được nhịp tim đang nhanh trong lồng ngực. Những người bên ngoài đi qua mà không dừng lại.

Gần sáng, Tapasi lại dùng ngón tay xóa một chút màu còn dính ở khóe môi nàng.

- Từ mai đừng dùng hương ta đưa nữa.

Huyền Trân hiểu. Thứ từng giúp nàng nhận ra Tapasi đã đi qua một căn phòng trước khi nhìn thấy bóng dáng, nay có thể giúp kẻ khác lần ra đường ngược lại.

Nàng kéo Tapasi xuống hôn thêm lần nữa.

Không lời hứa nào được nói ra vào đêm ấy.

---

Sứ Đại Việt tới sau đó vài tuần. Huyền Trân được báo qua đường chính thức nhưng hai ngày trước nàng đã thấy ba vết xước nhỏ dưới đáy chiếc bình nước được đưa vào phòng. Dấu ấy từng được Tapasi dùng khi cần truyền tin qua tay một người không được biết mình đang truyền gì. Huyền Trân đặt bình xuống mà không hỏi. Tối hôm ấy, cửa Đông đổi phiên sớm. Sáng hôm sau, người hầu thân cận của một viên quan chống việc nàng rời đi xin về chăm mẹ bệnh. Tapasi không tới.

Huyền Trân giận tới mức không ngủ được.

Người đàn bà kia đang cứu nàng mà không hề hỏi nàng có muốn được cứu theo cách ấy hay không. Cay đắng ở chỗ nếu Tapasi hỏi, Huyền Trân cũng chưa chắc trả lời được. Ở lại có thể dẫn tới chết hoặc một đời bị giữ làm món trang sức giữa những phe đang tranh quyền đoạt vị. Trở về nghĩa là rời khỏi nơi đã thành đời sống, khỏi một người mà nàng chưa từng có quyền công khai chọn lựa.

Trong những ngày ấy ý nghĩ bỏ trốn xuất hiện nhiều lần, nhưng Huyền Trân không cho nó tồn tại lâu. Hai người đều hiểu một chiếc thuyền rời bờ có thể cứu họ và giết những kẻ khác thay họ.

Tên Trần Khắc Chung dần xuất hiện trong những cuộc bàn luận. Sau này người đời sẽ đặt cả cuộc trở về của nàng dưới tên đàn ông ấy.

Những ngày ấy, Huyền Trân không cần hỏi Tapasi đang làm gì. Nàng nhận ra dấu của người kia ở những chỗ vốn chẳng ai nghĩ sẽ đáng nhớ. Một mệnh lệnh đến trễ hơn thường lệ, phiên canh được đổi, con đường ra bến bỗng thưa đúng vào đêm cần canh gác, chiếc thuyền nhẹ neo đúng chỗ vào đúng giờ. Từ phía đoàn Đại Việt, người ta bắt đầu bàn đến việc đưa nàng ra gần biển với danh nghĩa làm lễ chiêu hồn trước khi tang nghi kết thúc. Huyền Trân không biết ai là người đầu tiên nghĩ ra cái cớ ấy, cũng chẳng còn thiết phân định nó có thật sự hợp lệ hay không. Trong một cung đình đang đổi chủ, lễ nghi chỉ cần đủ giống lễ nghi để người ta quay mặt đi là đã có thể mở ra một lối thoát.

Cho nàng. Tapasi đã mở ra một lối thoát cho nàng.

Họ gặp nhau lần cuối trong một buổi chiều trời thấp, gió biển mang vị muối vào tận cung thành. Huyền Trân đang thay y phục thì Tapasi bước vào, cho hai cung nữ lui chỉ bằng một cái nhìn. Nàng tự tay sửa lại áo, tháo đôi hoa tai quá nổi để cài một đôi nhỏ hơn, rồi tháo khỏi chân một vòng mảnh có những hạt kim loại nhỏ trước khi bước hẳn tới gần. Khi cúi thấp, nàng thấy một sợi tóc bạc ở thái dương lộ ra dưới tóc đen.

Huyền Trân đưa tay chạm.

Tapasi khẽ nói:

- Đừng.

- Sợ ta nhổ à?

Nụ cười Tapasi rất mỏng mảnh.

- Sợ nàng sẽ nhớ ta.

Huyền Trân kéo nàng lại và hôn. Cơn giận mấy tuần tìm được đường ra trong nụ hôn ấy, thô ráp hơn mọi lần nhưng không kéo dài. Tapasi đáp lại một lúc rồi đặt bàn tay sau gáy nàng, giữ cho tới khi cả hai phải tách ra. Móc vàng trên áo cấn vào giữa hai thân người. Khi lùi lại, Tapasi dùng ngón cái lau qua môi Huyền Trân theo đúng thói quen đã từng dùng để xóa dấu mỹ phẩm sau những đêm ở bên nhau.

- Đừng làm như ngày mai ta còn phải dự lễ.

Tapasi nhìn miệng nàng rồi cười khẽ. Một nụ cười chua xót.

- Ngày mai nàng vẫn phải để người của nàng nhìn nữa mà.

Ở mặt trong cổ áo, nàng phát hiện hạt vàng nhỏ đã được khâu từ những tháng đầu Huyền Trân sang đây. Nó là một trong những món quà sau những lần cả hai ân ái. Tapasi tháo nó ra.

Huyền Trân giữ cổ tay nàng.

- Để lại.

Tapasi mở lòng bàn tay.

- Ở đâu?

Huyền Trân khép tay người kia quanh hạt vàng.

- Ở chỗ nàng.

Tapasi nhìn nàng. Lần đầu trong nhiều ngày Huyền Trân thấy lớp bình tĩnh trên mặt người kia rạn đi.

Nàng cất hạt vàng vào áo.

Sau đó Tapasi tháo toàn bộ tóc Huyền Trân ra, chải lại từ đầu như đêm đầu hai người từng ở một mình với nhau. Trong gương đồng, hai khuôn mặt nằm cạnh nhau, chẳng có gì ở bề ngoài cho thấy một người vừa sắp đặt cuộc bỏ đi của người kia, cũng chẳng ai đoán được những bàn tay đang chải tóc này từng run lên ở đâu khi ôm ấp cơ thể nhau.

Tapasi cài cây trâm cuối.

Huyền Trân nhìn bàn tay nàng trong gương.

Ngoài kia vẫn còn đường xuống phía Nam, đường ra biển, những nơi chưa ai biết tên họ. Chỉ cần một người nói ra, cả hai có thể phá kế hoạch và thử chạy. Nhưng phía sau họ là quá nhiều người.

Tapasi cúi xuống hôn lên đường ngôi tóc nàng.

- Đi đi.

Huyền Trân quay đầu lại.

- Nàng đừng tưởng ta sẽ tha thứ cho nàng.

Tapasi nhìn thẳng vào mắt nàng rồi bật cười.

- Ta biết.

Nàng đã bước gần tới cửa thì Huyền Trân gọi tên.

Tapasi quay đầu quá nhanh.

Chính phản ứng ấy làm Huyền Trân đau đớn hơn bất kỳ thứ gì nàng từng trải qua trong đời.

- Nếu ta không về thì sao?

Câu hỏi có thể mang quá nhiều nghĩa. Nếu con thuyền không tới, nếu triều đình đổi ý, nếu nàng chết, nếu nàng tự phá kế hoạch, nếu cả hai một lúc nào đó thật sự chọn chạy khỏi nơi này.

Tapasi đứng bên cửa rất lâu. Nàng đã cố giữ sắc mặt mình không đổi.

- Ta sẽ chờ tới khi biết chắc nàng đã thất hứa.

Huyền Trân không hỏi lời hứa nào.

Cả hai đều biết họ chưa từng hứa gì.

Tapasi rời đi. Đó là lời cuối cùng của nàng.

Từ đó, Huyền Trân không nhìn thấy nàng nữa.

Con thuyền rời bờ trong sương sớm. Những người Đại Việt quanh Huyền Trân thở nhẹ hơn khi đất liền mờ đi, nhưng nàng chỉ quay đầu một lần. Trên người không còn dầu của Tapasi, cổ áo không còn hạt vàng, tay áo chẳng giấu thư. Hai người đã dọn sạch nhau khỏi cơ thể nàng kỹ đến mức nếu một kẻ lục soát ngay lúc ấy cũng không tìm được gì ngoài một nàng công chúa đang trở về.

Trần Khắc Chung ở bên nàng suốt phần lớn chuyến đi. Sự mệt mỏi và kiệt sức của nàng bị thuyền viên hiểu lầm là tình yêu đối với ông. Nàng càng ít nói, người ta càng có nhiều điều để nói thay. Một chút nương nhờ giữa đường xa qua miệng người khác dần mang hình dạng của một chuyện tình. Không ai biết những lúc Huyền Trân quay mặt ra biển, nàng ước rằng con thuyền đừng bao giờ tìm được đường về.

Nhiều tháng sau, một thị nữ tìm thấy chiếc hộp gỗ cũ dưới đáy rương. Huyền Trân mở ra để tìm kiếm kỷ vật. Miếng vàng mang tên Tapasi đã biến mất.

Nàng không biết người kia lấy nó lúc nào, đáy hộp chỉ còn một vệt sẫm nơi dầu từng ngấm vào gỗ.

Chiếc hộp trở về Đại Việt hoàn toàn trống rỗng. Tapasi chỉ còn tồn tại ở nơi không ai khác có thể lục tìm được. Trí óc của nàng.

---

Đến lúc xuống tóc, Huyền Trân đã quen với việc đời mình được gọi bằng những cái tên của người khác đặt. Công chúa là huyết thống, hoàng hậu là hôn nhân, góa phụ đến từ cái chết của một người đàn ông. Khi vào cửa Phật, nàng nhận thêm một danh xưng nữa. Người cắt tóc làm công việc bằng đôi tay bình thản, từng lọn đen rơi xuống tấm vải dưới chân. Trong đó đã lẫn vài sợi bạc. Huyền Trân nhớ đôi tay Tapasi từng tháo trâm khỏi mái tóc này, nhưng ký ức chỉ đi qua rồi ở lại đâu đó, hơi thở bối rối của nàng không làm nghi lễ sai một nhịp.

Trên núi, thời gian trôi chậm hơn trong cung. Rêu bò thêm lên bậc đá, mùa hoa tới rồi hết, tiếng chuông buổi sớm lặp lại cho tới lúc nàng không còn phải đếm từng nhịp. Phật pháp không xóa Tapasi khỏi nàng, Huyền Trân cũng chưa từng mong nó làm điều ấy. Người đàn bà kia ở lại theo một cách ít dữ dội hơn tuổi trẻ. Trong việc nàng vẫn ghét thứ hương quá ngọt hay lúc bàn tay vô thức tìm một khoảng trống bên cạnh khi tỉnh giữa đêm, thậm chí còn lẩn trong cảm giác khó chịu bất chợt mỗi lần nghe tiếng một vòng kim loại nhỏ va nhau ngoài hành lang.

Tin phương Nam thưa dần qua năm tháng. Lúc đầu, thương nhân và khách đường xa vẫn mang tới những cái tên nàng từng biết. Sau đó chúng đổi âm, đổi chủ, mất đi. Huyền Trân chưa bao giờ hỏi thẳng Tapasi còn sống hay đã chết. Nàng sợ một người lạ nhìn mình rồi hỏi Tapasi là ai? hơn cả sợ nghe tin nàng chết. Thà để một khoảng trắng còn hơn cho một câu trả lời đau thương chiếm chỗ.

Ký ức cũng không còn trung thành như nàng từng tưởng. Gương mặt Tapasi mất dần những phần nhỏ trước tiên. Huyền Trân còn nhớ mắt rất lâu, vết rách trên tai hay ngón út tay phải hay cong lại khi ham muốn chưa kịp tan. Giọng cười biến mất sớm hơn. Nhiều năm sau nàng cố gợi nó lại trong đầu mà chỉ nghe thấy tiếng mưa của một mùa cũ đã tàn.

Một chiều cuối thu, đoàn thương nhân ghé chùa dâng lễ. Chú tiểu cho vào lò một mảnh gỗ thơm từ phương Nam. Khói mới bén đã làm tay Huyền Trân đang lần chuỗi hạt dừng lại. Mùi chẳng giống hẳn thứ dầu Tapasi từng gửi, khô hơn và sắc hơn, nhưng phần đắng cuối cùng đi qua cổ họng khiến căn phòng ở Đồ Bàn trở lại rõ đến mức nàng phải nhắm mắt.

Đêm ấy, Huyền Trân lấy chiếc hộp gỗ cũ khỏi đáy hòm.

Nắp đã cong, gỗ bạc màu, mùi cũ mất sạch. Nàng đặt nó cạnh ngọn đèn, rắc một lớp tro mỏng lên bàn rồi dùng đầu que vạch lại những nét từng thấy trên miếng vàng. Nét đầu hiện ra dễ dàng. Đến nét tiếp theo nàng phải dừng lại. Trí nhớ sau bao năm đã lẫn giữa chữ thật và thứ nàng tự sửa trong đầu mỗi lần nhớ tới.

Nàng xóa rồi viết lại.

Cuối cùng tên Tapasi hiện trên tro chỉ nhỏ bằng phần giữa lòng bàn tay nàng.

Huyền Trân ngồi nhìn rất lâu. Cha nàng có ngày mất. Mẹ nàng có ngày mất. Chế Mân có ngày chết để một triều đình cùng chịu tang. Nếu Tapasi đã chết, hẳn cũng từng có một ngày mặt trời mọc rồi lặn trên cái chết ấy, nhưng Huyền Trân chẳng biết nó là ngày nào. Nếu nàng sống thêm nhiều năm sau cuộc chia lìa, Huyền Trân cũng không biết những năm ấy đã trôi qua thế nào.

Nàng nhớ câu Tapasi từng nói trong đêm tang vua.

Đừng bắt ta trả lời khi nàng còn ngồi trước mặt ta.

Huyền Trân cười khẽ như đùa.

- Ta ngồi đợi nàng đến già rồi đây.

Không ai đáp lại lời nàng.

Gió núi lọt qua khe cửa, mặt tro rung nhẹ. Huyền Trân nhìn cái tên thêm một lúc rồi đặt đầu ngón tay xuống, miết chậm qua từng nét. Chữ nhòe thành một vệt xám dính trên da. Nàng bất chợt nhớ tới những dấu ghép đá phía sau ngôi đền năm ấy. Chúng từng được khắc ở nơi chẳng ai nhìn chỉ để những khối đã bị tách ra biết phải trở về cạnh khối nào. Khi mọi thứ dựng xong, chính cái dấu làm nhiệm vụ ấy sẽ bị chôn vào trong. Nàng nhận ra sau hơn nửa đời người rằng có những thứ chỉ cần được một người nhận ra là đủ.

Sáng hôm sau, chiếc hộp gỗ vẫn nằm khép cạnh lò hương, trống rỗng như suốt những năm qua. Tiếng chuông đầu vang lên ngoài sân, người trong chùa thức dậy, khói bắt đầu bay khỏi mái.

Về sau, người đời còn đặt thêm rất nhiều lời đồn lên cuộc đời của Công Chúa Huyền Trân.

Tên Tapasi không nằm trong số ấy.

Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top