PHẦN 7: CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC THÙNG TÔ NÔ
Cảnh sát có đưa đến 1 chiếc xe thùng và tôi dùng chiếc xe đó để hộ tống cô Morstan về nhà. Đằng sau cái cung cách thiên thần của một phụ nữ, cô chịu đựng những khổ đau với gương mặt hết sức hiền lành, điềm tĩnh trong 1 thời gian dài để an ủi những người còn yếu đuối hơn cô. Và tôi đã thấy cô vẫn tươi cười và bình thản khi ở bên bà lão giúp việc. Mặc dù vậy, trong xe, đầu tiên cô trở nên ủ rũ rồi bỗng khóc òa bởi những gì cô đã phải trải qua đêm nay khiến cô cảm thấy rất đau đớn. Đến giờ cô mới nói với tôi đó là do cảm thấy tôi đã thật lạnh nhạt và chỉ quan tâm tới vụ án. Cô ấy chỉ lờ mờ đoán rằng có 1 cuộc đấu tranh trong lòng cô lúc đó và cô đã phải cố gắng đến thế nào để tự kiềm chế bản thân. Sự đồng cảm và tình yêu thương của tôi dành hết cho cô, ngay cả lúc nắm tay cô trong vườn. Tôi cảm thấy hàng năm trời sống theo những quy ước của cuộc sống cũng không thể làm tôi thấy hết được sự ngọt ngào cũng như dũng cảm của cô bằng từng giây phút kì lạ trong ngày hôm nay. Có 2 lý do đã buộc tôi không thể thốt ra những lời yêu thương mà tôi muốn nói với cô vào cái đêm hôm đó. Thứ nhất, cô đang yếu đuối và cần được giúp đỡ, trí não và thần kinh cô lúc đó đang bị kích động. Như vậy sẽ là tiêu cực nếu áp đặt tình yêu lên cô vào thời điểm đó. Tệ hơn nữa là cô giàu có. Nếu cuộc tìm kiếm của Holmes thành công, cô sẽ trở thành người thừa kế 1 gia tài lớn. Điều đó có còn là công bằng, là xứng đáng không nếu 1 bác sĩ phẫu thuật nửa lương như tôi nhân cơ hội này để lợi dụng mối quan hệ thân mật như vậy? Có khi cô sẽ coi tôi chẳng khác nào một kẻ đào mỏ đáng khinh cả. Tôi không thể chịu đựng được dù chỉ 1 ý nghĩ như vậy thoáng qua đầu cô. Kho báu Arga đã xen vào giữa hai chúng tôi như một bức tường không cách nào vượt qua nổi.
Khi chúng tôi tới được nhà bà Cecil Forrester thì đã gần 2 giờ sáng. Gia nhân trong nhà đã đi nghỉ từ mấy giờ trước nhưng bà Forrester vẫn ngồi đó chờ cô về bởi bà cảm thấy rất quan tâm về lời nhắn kì lạ mà Morstan nhận được. Bà tự tay ra mở cửa cho cô. Bà là một phụ nữ trung niên, rất thanh nhã và tôi cảm thấy thích thú khi quan mà sát cách mà bà nhẹ nhàng vòng tay ôm lấy thắt lưng và ân cần nói với Morstan yêu thương như giọng của một người mẹ nói với con gái mình. Cô rõ ràng không chỉ được trả lương mà còn nhận được sự tôn trọng của bà chủ như với một người bạn. Cô giới thiệu tôi và bà Forrester đã tha thiết mời tôi vào nhà và kể cho bà nghe những cuộc phiêu lưu của chúng tôi. Dù vậy, tôi vẫn giải thích rằng mình có công chuyện rất quan trọng phải đi ngay và hứa 1 cách chắc chắn rằng tôi sẽ gọi hoặc ghi lại bất cứ tiến triển nào mà chúng tôi tìm ra trong vụ này. Khi xe chạy rồi, tôi còn ngoái lại nhìn trộm cô, dường như vẫn thấy dáng hai người phụ nữ yêu kiều đứng ở ngưỡng cửa căn nhà, quấn lấy nhau. Cánh cửa chính hé mở và ánh sáng từ đại sảnh tỏa ra qua những ô cửa kính màu, qua phong vũ biểu và những thành lan can sáng bóng. Thật là dễ chịu khi nhìn thấy cảnh ấy dù chỉ là thoáng qua: một căn nhà kiểu Anh giữa những mù mịt và tối tăm của vụ án mà chúng tôi đang tìm hiểu.
Càng nghĩ về những gì đã xảy ra, tôi càng cảm thấy bối rối và tăm tối. Tôi xem xét lại toàn bộ những sự kiện khác thường trong khi xe đang rầm rầm chạy qua những dãy phố yên tĩnh, được chiếu sáng bởi ánh sáng mờ nhạt của những cây đèn đường. Duy chỉ có vấn đề đầu tiên giờ đã tương đối rõ ràng. Cái chết của đại úy Morstan, việc gửi những viên ngọc trai, mẩu tin nhắn trên báo cũng như bức thư kì lạ đều đã được sáng tỏ. Tuy nhiên những điều đó lại dẫn chúng tôi tới 1 bi kịch còn bí hiểm và sâu xa hơn: kho báu của Ấn Độ, bức họa đồ kì bí được tìm thấy trong hành lý của đại úy Morstan, những điều lạ lùng xảy ra trong cái chết của thiếu tá Sholto, việc tìm được lại kho báu 1 cách đột ngột, theo sau đó là 1 vụ ám sát người đã tìm ra nó, những dụng cụ thô sơ trong vụ mưu sát, những dấu chân, vũ khí đặc biệt, chữ trên mẩu giấy giống hệt như trong bức họa đồ của đại úy Morstan, rõ ràng đây sẽ là 1 mê cung đối với những ai không có được cái khả năng trời phú như anh bạn tôi hẳn là sẽ phải thất vọng vì chẳng tìm được manh mối nào.
Ngõ Pinchin là 1 khu phố tồi tàn xây bằng gạch ở phần thấp hơn của Lambeth. Tôi phải gõ cửa căn nhà số 3 mấy lần trước khi nhìn thấy được chút gì về căn nhà đó. Mặc dù vậy, cuối cùng cũng có ánh nến le lói phát ra từ trong căn nhà và 1 gương mặt ló ra nhìn từ chiếc cửa sổ ở lầu trên.
- Đi đi, tên say rượu lang thang kia - Người đó nói - Nếu ngươi không ngừng đập cửa thì ta sẽ mở cũi chó và thả 43 con chó ra cho nó cắn người đấy.
- Ông chỉ cần đưa cho tôi 1 con thôi, tôi tới đây cũng chỉ vì việc đó - Tôi nói.
- Thôi đi đi! - Giọng đó thét lên - Ngươi hãy để ta tỏ ra lịch thiệp 1 chút đi. Ta có 1 cái giẻ lau trong cái túi đây này và ta sẽ ném nó vào ngươi nếu ngươi không xéo đi đấy.
- Nhưng tôi cần 1 con chó - Tôi gào lên.
- Ta không tranh cãi với ngươi nữa đâu! - Ông Sherman quát lên - Bây giờ thì nghe cho rõ đây, ta sẽ đếm tới 3 rồi ném cái giẻ này xuống đầu ngươi đấy.
- Ngài Sherlock Holmes ... - Tôi mới chỉ bắt đầu nhưng những từ ấy cứ như là có 1 tác dụng thần kì vậy.
Ngay sau đó cửa sổ đóng rầm lại và chưa đầy 1 phút sau, cửa chính đã được mở. Ông Sherman là một người đàn ông già, gầy và cao lêu khêu, lưng hơi còng, cổ gân guốc, đeo 1 cặp kính màu xanh lơ.
- Bạn của ngài Sherlock Holmes thì lúc nào cũng được chào đón thưa ngài - Ông ta nói - Ngài vào đi. Đừng đến gần con chồn đó, nó cắn đấy, thưa ngài. À, hư chưa, hư chưa kìa, mày định cắn ông khách à? Ông ta nói với 1 con chồn đang thò cái đầu tinh quái và cặp mắt đỏ ngầu ra giữa những thanh sắt của chiếc lồng - Đừng bận tâm tới con kia thưa ngài, nó chỉ là một con thằn lằn thôi. Nó không có răng đâu, chính vì thế tôi mới để nó chạy quanh phòng để nó có thể bắt được bọ. Ngài không giận tôi về những hiểu lầm lúc trước, khi mới tới đây đấy chứ. Tôi bị xem như là ngáo ộp của lũ trẻ cho nên rất nhiều lần chúng xuống cái hẻm nhỏ này chỉ để đập cửa nhà tôi. Vậy ngài Sherlock Holmes muốn gì nơi tôi, thưa ngài?
- Anh ấy muốn mượn 1 con chó của ông.
- À! Là Toby đấy.
- Phải, đúng là nó đấy.
- Toby nằm ở chuồng số 7 phía tay trái kia kìa.
Ông ta chậm rãi đi về phía đó với cây nến trong tay, giữa những con vật trông hết sức kì lạ xung quanh. Dưới những tia sáng yếu ớt, tôi có thể thấy lờ mờ những cặp mắt tinh anh, nhìn trộm chúng tôi ở bất kì ngóc ngách, khe hở hay xó xỉnh nào. Thậm chỉ cả những thanh xà ngang ở trên đầu chúng tôi cũng có những chú chim xếp thành hàng dài rất uy nghiêm, chúng đổi thế đứng từ chân này sang chân kia 1 cách lười biếng khi có tiếng nói quấy rầy. Toby quả là 1 con chó rất xấu, lông nó dài, 2 tai thõng xuống. Nó là giống chó lai, 1 nửa dòng máu là giống chó Spaniel, 1 nửa dòng máu là giống chó Lurcher (1 giống chó lai của Đức), lông nó màu nâu pha chút trắng, dáng đi thì ỳ ạch vụng về. Nó có vẻ chấp thuận đi làm nhiệm vụ sau vài tiếng rên lên ư ử, ông Sherman đưa cho tôi 1 bọc đường sau khi kết thúc thỏa thuận với nó, nó theo tôi đi ra xe mà không hề gây khó khăn gì. Khi tôi lên đường trở về biệt trang Pondicherry thì đồng hồ cũng vừa điểm 3 giờ sáng. Theo tôi được biết, nhà cựu vô địch McMurdo bị bắt về tội đồng lõa và cùng với ông Sholto bị giải về sở cảnh sát. Hai viên cảnh sát đã đứng gác ở cánh cổng hẹp nhưng họ cho tôi vào cùng với con chó khi nghe nói tới tên của nhà thám tử tài danh, bạn tôi. Holmes đang đứng đợi tôi ở bậc cửa, 2 tay cho vào túi, miệng ngậm 1 chiếc tẩu.
- A, anh mang nó tới đây rồi! - Anh nói - Nào, chó ngoan! Athelney Jones đã đi rồi. Khi anh vừa rời khỏi đây, chúng tôi đã có 1 màn phô trương quyền lực đầy hiếu chiến. Ông ta không chỉ bắt giữ ông bạn Thaddeus của chúng ta mà còn bắt cả người canh cửa, bà giúp việc và người gia nhân Ấn Độ nữa. Giờ thì chúng ta tha hồ mà hoạt động, chỉ còn một anh hạ sĩ ở trên kia nữa thôi. Để con chó ở đây còn ta thì lên trên gác 1 chút đã.
Chúng tôi buộc con Toby ở bàn dưới sảnh rồi lại lên gác. Căn phòng mà chúng tôi vừa rời đi không khác gì lúc trước, chỉ có thêm 1 tấm khăn trải bàn phủ lên mình nạn nhân. Một viên thanh tra cảnh sát trông có vẻ mệt mỏi đang đứng tựa vào 1 góc phòng.
- Anh làm ơn cho tôi mượn cái đèn lồng của anh được không, hạ sĩ - Bạn tôi nói - Nào, giờ hãy buộc mẩu giấy này quanh cổ tôi, để nó treo ở trước ngực tôi. Cám ơn anh! Nào, giờ tôi tháo tất và giày ra, anh mang nó xuống dưới hộ tôi, Watson. Tôi sẽ trèo lên kia 1 chút, và tôi sẽ nhúng cái khăn tay này vào chất creosote. Vậy đấy. Bây giờ anh hãy trèo lên trên tầng gác mái với tôi nhé.
Chúng tôi trèo qua cái lỗi. 1 lần nữa, Holmes lại rọi ánh sáng xuống những dấu chân nằm giữa những lớp bụi.
- Tôi xin lưu ý với anh, hãy đặc biệt chú ý tới những dấu chân này - Anh nói - Anh có quan sát thấy bất cứ điều gì đặc biệt ở chúng không?
- Chúng là của một đứa trẻ hoặc một người phụ nữ nhỏ nhắn - Tôi nói.
- Ngoài kích thước ra anh còn nhận xét gì nữa không?
- Thì chúng cũng giống như bao dấu chân khác thôi.
- Không hẳn là thế đâu. Anh hãy nhìn nhé! Đây là dấu chân phải trên lớp bụi đúng không. Bây giờ tôi sẽ tạo ra 1 cái như thế với cái chân trần của tôi bên cạnh nó để anh so sánh nhé.
- Những ngón chân của anh thì chụm lại. Còn những dấu chân này thì mỗi ngón lại như tách rời nhau ra 1 cách rõ rệt.
- Chính thế đấy. Đó chính là điểm mấu chốt. Anh hãy ghi nhớ điều đó nhé. Giờ, anh có thể vui lòng đứng cạnh cửa sổ dưới nhà và ngửi ở bậu cửa thử xem? Tôi sẽ đợi anh ở đây, bởi tôi đang cầm chiếc khăn trong tay mà.
Tôi làm như những gì Holmes hướng dẫn và nhận ra nó có mùi giống hệt như mùi hắc ín.
- Vậy thì chắc chắn hắn đã đặt chân lên đó khi chuồn ra ngoài rồi. Nếu anh còn có thể phát hiện ra dấu vết ấy thì tôi chắc chắn Toby sẽ không gặp khó khăn gì đâu. Giờ thì anh hãy xuống lầu, tháo dây ra cho con chó và xem người nghệ sĩ nhào lộn biểu diễn.
Cùng lúc tôi đi ra ngoài sân thì Sherlock Holmes đang ở trên mái nhà. Và tôi có thể trông thấy anh như 1 con sâu khổng lồ hăng hái đang bò 1 cách chậm rãi dọc theo mái nhà. Tôi không nhìn thấy anh ở đằng sau những cột ống khói nhưng ngay sau đó anh lại xuất hiện rồi lại biến mất ở phía bên kia. Khi tôi đi 1 vòng quanh thì thấy anh đang ngồi tại 1 góc ở mép mái nhà.
- Có phải là anh đó không, Watson? - Anh thét lên.
- Vâng, tôi đây.
- Đây chính là nơi cần tìm rồi. Có vật gì màu đen ở dưới đó không?
- Có, 1 cái thùng tô-nô đựng nước.
- Nó có nắp không?
- Có đấy.
- Không có dấu vết của 1 cái thang đúng không?
- Không.
- Quỷ tha ma bắt hắn đi! Đây là chỗ nguy hiểm nhất của cái mái này. Tôi bắt buộc phải xuống theo đường mà hắn đã trèo lên. Cái ống dẫn nước này có vẻ hơi cứng. Dù thế nào cũng phải thử xem đã.
Có tiếng 2 bàn chân cọ xát vào nhau và cái đèn lồng rớt xuống rất từ từ bên cạnh tường. Rồi cùng với chiếc đèn, tôi thấy anh nhảy tót trên chiếc thùng tô-nô và từ đó tiếp đất 1 cách an toàn.
- Tìm ra dấu vết của hắn cũng dễ thôi - Anh vừa nói vừa đi tất và giày vào chân - Những viên ngói đã bị xô dịch khắp trên đường tôi xuống được dưới này, trong lúc vội vã, hắn đã đánh rơi vật này. Nó đã củng cố thêm cho những chẩn đoán của tôi, như bác sĩ các anh thường nói ấy.
Cái vật mà anh nói tới là 1 chiếc ví hay 1 cái túi nhỏ được đan bằng loại cỏ màu với những hạt nhỏ xíu được đính xung quanh trông rất lòe loẹt. Về hình dáng cũng như kích thước trông nó chẳng khác gì 1 chiếc hộp đựng xì-gà. Bên trong có 6 mẩu nhỏ những cái gai gỗ màu tối, sắc nhọn ở 1 đầu, đầu còn lại được vát tròn, giống hệt như cái gai đã gây ra cái chết cho Bartholomew Sholto.
- Chúng là những thứ của địa ngục - Anh nói - Hãy cẩn thận không thì anh đâm vào tay mình bây giờ. Tôi rất vui khi có được chúng, hy vọng rằng đây là tất cả những cái gai mà hắn có. Như vậy thì sẽ đỡ sợ hơn khi nhận ra 1 trong 2 chúng ta đã bị 1 cái đâm vào người. Tôi thì lại thích mình bị trúng 1 viên đạn Martini hơn là dính cái thứ này. Anh còn đủ sức để đi tiếp 1 đoạn đường gần 6 dặm nữa không, Watson?
- Dĩ nhiên rồi - Tôi trả lời.
- Chân anh sẽ chịu nổi chứ?
- Ồ, vâng, không sao đâu.
- Mày đây rồi, chó ngoan! Toby già ngoan ngoãn! Ngửi nó đi, Toby, ngửi nó đi! - Anh đẩy chiếc khăn tẩm creosote về phía mũi của con chó trong khi 2 chân con vật dạng ra, đầu nghiêng về 1 bên trông rất hài hước, như 1 kẻ sành sỏi đánh hơi thấy mùi rượu quý. Sau đó Holmes ném cái khăn ra xa rồi nhanh chóng cầm lấy sợi dây buộc ở vòng cổ của con chó lai và dẫn nó tới những dấu chân trên chiếc thùng tô-nô đựng nước. Ngay lập tức con chó tru lên 1 tràng dài và cao rồi chúi mũi xuống dưới đất, cái đuôi ngoe nguẩy trong không trung, nó rượt theo mùi đó với 1 tốc độ làm cái dây buộc ở cổ nó căng ra, còn chúng tôi thì phải cố gắng hết sức để chạy theo sau cho kịp với nó.
Phía đông, bầu trời đang sáng dần và bây giờ chúng tôi chỉ nhìn thấy 1 khoảng sáng nhỏ màu xám lạnh lẽo. Ngôi nhà to lớn, đồ sộ với những ô cửa sổ đen, trống rỗng và với những hàng hiên cao, trơ trọi đứng sừng sững, cô độc, buồn thảm phía trước. Con đường đưa chúng tôi đi ngang qua những bụi cây khô cằn khiến biệt trang này đượm 1 vẻ sầu thảm, bi đát rất phù hợp với tấm thảm kịch đang đổ ập lên nó.
Khi tới tường rào ngăn cách, Toby chạy dọc theo đó, rên rỉ 1 cách hăm hở, ngay phía dưới cái bóng rồi nó dừng lại ở 1 góc tường được che khuất bởi 1 cây sồi non. Chỗ 2 bức tường giao nhau, có vài viên gạch bị xô lệch đi và những kẽ nứt đã mòn vẹt thành những vết tròn ở phía dưới, có lẽ bọn chúng vẫn thường sử dụng lối này như 1 chiếc thang. Holmes trèo lên đó, đón con chó từ tay của tôi rồi thả nó sang bên kia bức tường.
- Đây là dấu tay của người đàn ông chân gỗ - Anh chỉ cho tôi xem khi tôi trèo lên ngay cạnh anh - Anh có nhìn thấy vết ố của máu trên lớp vữa trắng này không? Thật là may mắn vì suốt từ đêm qua tới giờ không có cơn mưa to nào làm mất dấu vết. Nói chung, mùi đó vẫn còn phảng phất trên đường cho dù chúng có đi trước ta tới cả 28 tiếng đồng hồ.
Thú thực là tôi có mối nghi ngờ riêng của mình khi tôi nghĩ tới mật độ giao thông rất lớn trên những đường phố trong London. Mặc dù vậy, nỗi lo của tôi cũng nhanh chóng được giải tỏa. Toby vẫn không hề do dự hay đi chệch hướng cả mà vẫn thong thả đánh hơi với cái dáng vẻ hết sức đặc biệt của nó. Rõ ràng là mùi hăng của creosote đã vượt lên trên tất cả những mùi khác trong không khí. Holmes nói:
- Đừng nghĩ rằng thành công của tôi trong vụ này chỉ dựa trên việc 1 trong số thủ phạm đã vô tình giẫm chân vào chất hóa học này. Giờ tôi đã hiểu được vấn đề đủ để có thể tóm được chúng bằng nhiều con đường khác nhau. Tuy nhiên cách này là dễ dàng nhất, hơn nữa may mắn lại nằm trong tay chúng ta, tôi sẽ thật đáng trách nếu bỏ lỡ cơ hội này. Mặc dù vậy, may mắn cũng làm cho vấn đề của vụ án này trở nên ít chất trí tuệ hơn là những gì tôi hy vọng lúc đầu. Phải thú thực rằng nếu như không có cái chứng cứ rõ ràng kia thì việc xuyên thủng được tấm màn bí mật trong vụ này mới thật sự là 1 thành công đáng ghi nhận.
- Tôi nghĩ thế này đã là thành công rồi, còn hơn thế nữa ấy chứ - Tôi nói - Tôi đảm bảo với anh, Holmes ạ, rằng tôi rất ngạc nhiên về cái cách mà anh suy luận để đưa ra kết quả trong vụ này còn hơn cả những gì tôi đã từng được chứng kiến trong vụ Jefferson Hope. Những tình tiết đối với tôi dường như sâu xa hơn, khó hiểu hơn, không thể giải thích nổi. Ví dụ nhé, làm sao anh có thể miêu tả 1 cách chắc chắn đến vậy về gã thủ phạm có cái chân gỗ?
- Anh bạn thân mến ơi! Đơn giản thôi mà. Tôi không có ý định phô trương gì đâu. Tất cả đều rất rành mạch, rõ ràng. Hai sĩ quan có nhiệm vụ trông coi 1 trại tù biết được bí mật hết sức quan trọng về 1 kho báu được cất giữ ở đâu đó. Tấm họa đồ được vẽ và đưa cho họ bởi một người đàn ông người Anh tên là Jonathan Small. Anh có nhớ chúng ta đã từng nhìn thấy cái tên ấy trên tấm họa đồ trong tư trang của đại úy Morstan chứ. Hắn ta đã kí vào đó 1 cái tên nhân danh chính bản thân và những người trong hội của hắn ta. Dấu bộ tứ, có thể đó chỉ là cái tên mà hắn đột xuất nghĩ ra. Dựa vào tấm họa đồ đó, hai viên sĩ quan, hoặc một trong hai người đã lấy kho báu và mang nó về nước Anh mà không hoàn thành 1 số điều kiện mà Small đã giao hẹn từ trước, chúng ta cứ giả thiết như vậy đi. Vậy thì tại sao bây giờ Jonathan Small lại tự đi lấy kho báu? Câu trả lời thật rõ ràng. Bức họa đồ có từ khi Morstan đang có mối liên hệ gần gũi với đám tù khổ sai. Jonathan Small không thể lấy được kho báu bởi chính hắn ta và những người trong hội của hắn ta đều là những tù nhân và không thể đi xa được.
-Nhưng đó chỉ đơn thuần là sự suy đoán thôi - Tôi nói.
- Còn hơn thế ấy chứ. Đó là giả thuyết duy nhất ăn khớp với các sự kiện. Để tôi giải thích cho anh thấy nó hợp với đoạn tiếp của câu chuyện như thế nào nhé. Thiếu tá Sholto sống yên bình trong vài năm với niềm hạnh phúc được sở hữu cả 1 kho báu lớn. Sau đó ông nhận được 1 lá thư gửi từ Ấn Độ khiến ông rất kinh hãi. Vậy nội dung bức thư là gì?
- Bức thư báo cho ông ta biết những người mà ông ta phản bội giờ đã được phóng thích, phải thế không?
- Hoặc họ trốn thoát được. Điều đó có vẻ hợp lí hơn, bởi hẳn thiếu tá phải biết rõ bao giờ bọn họ được mãn hạn tù chứ. Chính vì thế nên bức thư đó mới làm cho ông ta sững sờ. Ông ta làm gì tiếp sau đó? Ông ta thuê vệ sĩ để chống lại một người có chiếc chân giả, một người đàn ông da trắng, xin lưu ý anh rằng, có lần ông ta đã nhận nhầm một người đưa hàng da trắng và thực tế là đã bắn ông ta. Giờ thì chỉ có một người có cái tên của người da trắng trông bức họa đồ ấy thôi. Những cái tên còn lại cho thấy họ là người theo đạo Hindu hay Hồi giáo. Không có cái tên nào của người da trắng nữa cả. Do vậy, chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng người đàn ông có chân giả gỗ này tên là Jonathan Small. Anh có thấy những lập luận của tôi có gì còn thiếu sót không?
- Không, tất cả đều rất rõ ràng và chính xác.
- Tốt rồi, giờ chúng ta sẽ đặt mình vào vị trí của Jonathan Small. Chúng ta hãy nhìn nhận sự việc theo cách nhìn, quan điểm của ông ta nhé. Ông ta trở về Anh với 2 mục đích: thứ nhất là lấy lại những gì mà ông ta cho rằng mình đáng được hưởng và thứ hai là trả thù kẻ phản bội. Ông ta đã tìm ra nơi ở của thiếu tá Sholto và có thể tìm cách thiết lập mối quan hệ với 1 ai đó trong nhà. Đó có thể là người quản gia, Lal Rao, người mà chúng ta chưa nhìn thấy lần nào. Bà Bernstone đã miêu tả với tôi về người đàn ông này có vẻ không tốt đẹp cho lắm. Mặc dù vậy, Small vẫn không thể tìm ra nơi cất giấu kho báu, bởi trong nhà, chưa ai từng biết về nó trừ chính thiếu tá và người gia nhân trung thành đã chết. Đột nhiên Small hay tin thiếu tá đang trên giường bệnh chờ chết. Với nỗi lo sợ điên cuồng rằng bí mật về kho báu sẽ theo ông ta xuống mồ, hắn ta đã lọt qua được vòng bảo vệ của đám gia nhân, tới bên cửa sổ của kẻ hấp hối, chỉ vì sự có mặt của hai người con trai của thiếu tá mà lúc đó hắn đã không dám xông vào căn phòng. Lòng căm thù đối với người chết khiến hắn như phát điên. Đêm đó hắn đã đột nhập vào phòng, lục tìm những giấy tờ riêng tư của đại tá với hy vọng tìm được 1 chỉ dẫn nào đó về nơi cất giữ kho báu, rồi cuối cùng để lại 1 vật như chứng minh chuyến viếng thăm của mình bằng 1 câu ghi trên tấm thiệp. Chắc chắn là hắn đã chuẩn bị kế hoạch trước để giết chết thiếu tá rồi sẽ để lại mẩu thiệp này trên người nạn nhân như 1 ám hiệu rằng đây là 1 vụ giết người không bình thường, đó là điều hết sức tự nhiên bởi nó là hành vi tái lập công lý, ít ra là theo quan điểm của bốn người trong nhóm. Những sự kiêu ngạo kì quái theo kiểu này là rất bình thường trong lịch sử tội phạm và nó thường cho ta những chỉ dẫn rất có giá trị về tính cách tên tội phạm. Anh có theo kịp tất cả những điều đó không?
- Rất rõ ràng, Holmes ạ.
- Giờ thì Jonathan Small có thể làm gì? Hắn ta chỉ có thể tiếp tục theo dõi 1 cách bí mật với nỗ lực tìm cho bằng được kho báu. Có thể hắn ta đã rời khỏi nước Anh và chỉ thỉnh thoảng quay trở lại thôi. Nhưng khi mà kho báu trên căn gác mái được tìm thấy thì ngay lập tức hắn đã biết được tin đó. Chúng ta lại 1 lần nữa nhắc tới vai trò của của kẻ đồng mưu với Small trong đám gia nhân. Jonathan, với cái chân gỗ hoàn toàn không có khả năng trèo lên được căn phòng ở mãi tít trên cao của Bartholomew Sholto. Tuy nhiên hắn ta có đem theo 1 đồng bọn thực sự kì lạ, tên này đã trèo lên đó nhưng cái chân trần của hắn đã chẳng m0ay giẫm phải creosote, do vậy mới phải bắt Toby và ông bác sĩ hưởng lương trợ cấp, lại đang bị tổn thương dây chằng đi bộ cùng tôi cả đoạn đường 6 dặm thế này.
- Nhưng chính tên đồng lõa chứ không phải Jonathan phạm tội giết người sao?
- Đúng như vậy. Hơn nữa sự phẫn nộ của hắn ta còn được thể hiện bằng những dấu chân đi đi lại lại trên sàn khi hắn ta vào phòng. Small không có ý thù hận với Bartholomew Sholto và hắn chỉ định đơn giản là trói và nhét giẻ vào miệng nạn nhân thôi. Chính hắn cũng không muốn tự chui đầu mình vào giá treo cổ đâu. Nhưng không còn ích gì nữa: cái bản chất hoang dại của kẻ đồng lõa với hắn đã bùng phát, chất độc đã làm xong công việc của nó, vì thế Jonathan Small để lại tấm thiệp của hắn, đưa hòm đựng kho báu xuống dưới đất và mang nó theo. Đó là chuỗi những sự việc mà tôi có thể giải mã được. Dĩ nhiên, nếu nói về diện mạo của hắn thì chắc chắn hắn phải là một người trung niên, có làn da rám nắng sau cả 1 thời gian dài bị giam giữ ở 1 nơi chẳng khác gì cái lò thiêu như Andamans. Chiều cao của hắn ta có thể tính được thông qua độ dài của sải chân và ta cũng hiểu hắn có để râu cằm. Bộ râu này là điểm làm cho Thaddeus Sholto ấn tượng nhất khi ông ta nhìn thấy hắn ở cửa sổ. Tôi không biết còn thiếu gì nữa không.
- Vậy còn kẻ đồng lõa của hắn?
- À, thực ra cũng chẳng còn điều gì là quá bí ẩn về hắn cả. Rồi anh sẽ được biết tất cả về tên này sớm thôi. Không khí buổi sáng mới ngọt ngào và trong lành làm sao! Anh nhìn đám mây nhỏ đang trôi kia kìa, trông nó có giống với 1 chiếc lông vũ màu hồng của 1 con chim hồng hạc khổng lồ không? Bây giờ là sắc đỏ của mặt trời đang nhô lên trên những đám mây cuồn cuộn ở London này. Mặt trời hôm nay chiếu sáng cho khá nhiều người, nhưng chẳng ai trong số họ, tôi dám cá với anh đấy, lại có 1 nhiệm vụ lạ lùng hơn chúng ta. Chúng ta thật nhỏ bé làm sao với những tham vọng và đấu tranh tầm thường, nhỏ bé trước sự vĩ đại đến vô cùng của tự nhiên. Anh có tiến triển gì trong việc nghiên cứu về Jean Paul không? (Jean Paul là tên một nhà văn thời bấy giờ).
- Cũng tương đối. Tôi đã tìm hiểu kĩ hơn về ông ta qua Carlyle.
- Cũng giống như là con suối nhỏ chảy về sông vậy. Ông ấy có vẻ là một người kì bí nhưng học vấn lại rất uyên thám. Bằng chứng về sự vĩ đại thực sự trong một người đàn ông là nhận thức về cái tôi nhỏ bé, tầm thường. Anh thấy không, đấy là sức mạnh của sự so sánh và đánh giá, mà chính bản thân nó cũng đã là 1 chứng cứ về sự cao quý của con người. Richter khiến ta phải suy nghĩ nhiều đấy. Anh có súng ngắn ở đó chứ, Watson?
- Tôi có 1 cây gậy thôi.
- Cái gì cũng được, miễn là chúng ta có 1 thứ gì đó đủ để tự vệ nếu như ta lọt được vào hang ổ của bọn chúng. Jonathan tôi sẽ giao cho anh xử lý, nhưng nếu kẻ còn lại trở nên điên cuồng thì tôi buộc phải bắn chết hắn ta.
Vừa nói anh vừa ngẫm nghĩ, nhét 2 viên đạn vào khẩu súng rồi lại bỏ nó vào túi áo bên phải của chiếc jacket.
Trong suốt thời gian ấy, chúng tôi theo chân Toby qua những con phố với những tòa biệt thự ở 2 bên dẫn tới khu nội thành tấp nập. Mặc dù bây giờ chúng tôi mới bắt đầu đi giữa phố xá nối tiếp nhau, nơi những người công nhân và đốc công đang xôn xao náo nhiệt, những người phụ nữ đang dỡ các cánh cửa con để mở cửa hàng và cọ rửa những bậc thềm. Từ những quán rượu, người ta thấy mấy đám đàn ông dáng đi thô bạo, vừa đi vừa quệt tay áo vào bộ râu của mình sau chầu nhậu buổi sáng. Những con chó lạ thơ thẩn và sủa 1 cách thích thú khi chúng tôi đi ngang qua. Nhưng con Toby của chúng tôi thì không thèm bắt chước, nó không quay trái, quay phải mà chỉ chúi chiếc mũi trên mặt đất và thỉnh thoảng lại gừ gừ lên 1 cách háo hức như đang tìm 1 mùi rất hấp dẫn vậy.
Chúng tôi đi qua Streathan, Brixton, Camberwell và giờ thấy mình ở hẻm Kennington, thế là chúng tôi đã đi qua những con đường ngang phía đông của khu Oval. Những tên thủ phạm mà chúng tôi truy đuổi dường như có 1 lộ trình theo hình zic zắc rất kì lạ, có lẽ chúng nghĩ như vậy sẽ thoát khỏi sự theo dõi. Chúng không bao giờ đi theo đường thẳng nếu có 1 con phố ngay cạnh song song với nó mà chúng có thể rẽ qua. Cuối hẻm Kennington, chúng lách sang bên trái, đến con phố sau dẫn ta ra quảng trường Knight. Toby ngừng tìm kiếm nhưng bắt đầu quay đi quay lại với 1 tai cụp, tai kia thì vểnh lên, đúng là hình ảnh về sự lưỡng lự ở giống chó. Rồi nó lạch bạch quay mấy vòng, nhìn chúng tôi hết lần này đến lần khác để tìm sự thông cảm cho sự lúng túng của nó.
- Có chuyện quái gì xảy ra với con Toby thế nhỉ? - Holmes gầm lên - Chúng chắc chắn không thể đi xe hòm hay bay lên bằng khinh khí cầu được.
- Có thể chúng đứng đây 1 lúc rồi mới đi thì sao? - Tôi đề xuất.
- À, đúng rồi. Nó lại đi tiếp lại kìa - Bạn tôi reo lên với 1 giọng đầy tin tưởng.
Thực thế, Toby lại tiếp tục đánh hơi 1 vòng quanh lần nữa, xong rồi nó đột nhiên thay đổi ý định và phóng về phía trước với 1 sức mạnh và quyết tâm mà lúc trước nó chưa hề có. Có vẻ như cái mùi ấy trở nên hấp dẫn hơn trước và Toby thậm chí còn chẳng cần phải đánh hơi ở trên mặt đất nữa mà nó giật mạnh cái dây, cố gắng giằng ra để mà chạy. Tôi có thể thấy tia sáng trong mắt của Holmes bởi có vẻ như chúng tôi đang tới rất gần cái đích của cuộc hành trình.
Giờ thì chúng tôi xuống tới Nine Elms rôi tới xưởng gỗ lớn "Broderick và Nelson" nằm ngay sau quán rượu White Eagle. Con chó thì cứ điên cuồng trong tình trạng như bị kích thích, nó chạy xuống qua cánh cổng bên, xộc vào xưởng gỗ nơi những người thợ đang bắt đầu làm việc. Toby chạy qua những đống mạt cưa và dăm bào, xuống 1 lối nhỏ, qua hành lang, len lỏi giữa 2 đống gỗ và cuối cùng, nó rít lên 1 cách đắc thắng, nhảy phốc lên 1 chiếc thùng vẫn đang còn nằm trên xe vừa mới được đưa tới. Với cái lưỡi thè ra và đôi mắt long lanh, Toby đứng trên chiếc thùng tô-nô, nhìn chúng tôi hết người này qua người khác để tìm kiếm 1 sự tán dương dành cho nó. Ván thùng tô-nô và bánh chiếc xe đặc 1 chất lỏng màu đen, không khí xung quanh sặc mùi creosote.
Sherlock Holmes và tôi nhìn nhau và rồi đột nhiên bật cười không sao nhịn nổi.
Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top