Từ Hà Tiên đến Sài Gòn
Sài Gòn những năm chập chững ở ngưỡng đôi mươi. Thành phố khi ấy vừa đắp lên mình một chiếc chăn dày đậm đặc hơi thở phương Đông, vừa đương ngả mình vào chiếc ghế da sang trọng của nền văn minh phương Tây.
Người Pháp dựng lên những dãy phố nhà gạch đỏ, hàng cây me tây chạy dài, nhà thờ Đức Bà, dinh Thống Đốc, bưu điện và những con đường mang bao cái tên xa lạ: Catinat, Bonard, Taberd,...
Giữa lòng thành phố, tiếng chuông tàu điện lan đi trong sương sớm; chiều đến, hình ảnh xe kéo, xe ngựa, và những cô gái áo dài trắng thong thả được phản chiếu qua mấy tấm cửa kính quán cà phê kiểu Tây, nơi người ta gọi nhau bằng monsieur và mademoiselle.
Ở đó, giữa thời rối ren, khi chữ Nôm chẳng còn là chữ, vẫn có những người trẻ thiết tha giấc mộng tri thức. Họ tin rằng bầu trời rộng lớn ngoài kia chỉ đón đợi kẻ dám ôm chí hơn người.
Từ miền đất Hà Tiên, nơi trời cao giao nhau với biển xanh, hai cậu trai đã rời quê mà đi.
Mạnh Tiến và Châu Hưng.
Châu Hưng là con trai một điền chủ lớn ở Hà Tiên, nhà trồng tiêu, buôn gạo, ruộng đất trải dài đến tận cửa biển. Gia đình em sống trong một ngôi nhà gỗ ba gian, mái ngói âm dương, tường treo đầy tranh chữ Hán lẫn ảnh chụp kiểu Tây. Cha em, ông Châu Vĩnh, là người từng học ở Sài Gòn thuở trẻ, biết tiếng Pháp, ngày ngày đọc báo L'Écho Annamite, và tin vào chuyện nước Nam rồi sẽ thay da đổi thịt. Ông cho con đi học chữ Tây, mặc áo sơ mi, nói tiếng Pháp với thầy, nhưng trong nhà vẫn cúng Tổ đều đặn, vẫn dạy con lễ nghĩa và đạo hiếu.
Hưng thừa hưởng từ cha một tầm nhìn pha giữa những giá trị truyền thống cốt lõi và tư duy cởi mở. Em học giỏi, kiệm lời, thi thoảng hay mộng mơ, như bao cậu trai cùng lứa khác. Từ bé, em đã mang dáng dấp của người biết suy nghĩ, ánh nhìn lúc nào cũng lơ đãng như kẻ luôn ôm trong mình những nỗi niềm riêng.
Còn Mạnh Tiến, nhỏ hơn Hưng một tuổi, là con trai ông Hội đồng, một trong những địa chủ giàu có nhất vùng Hà Tiên. Nhà Tiến là biệt phủ, có sân lát gạch bông nhập từ Pháp, có đèn dầu hỏa thắp sáng khắp nơi, và người hầu kẻ hạ đi lại rộn ràng. Cha nó xuất thân nho học, từng là tri huyện, rồi về hưu mở điền buôn gạo, trúng mùa mấy vụ liền, giàu nứt đố đổ vách. Nhưng trong lòng ông, "đạo làm người" vẫn nằm ở những dòng chữ Khổng Tử đã ngấm vào xương. Ông tin rằng con trai phải học hành đỗ đạt, phải nối dõi tông đường, phải giữ danh tiếng gia môn. Lời cửa miệng của ông luôn bắt đầu bằng từ "phải", phải đúng, phải ngoan, phải giống như ông muốn.
Tiến, ngược lại, là con trai trưởng, nhưng ưa tự do, chán ghét mấy lề thói cũ kĩ. Dưới nó còn có thằng Kiến Huy, cái đứa được lòng cha hơn vì học hành giỏi giang mà lại biết điều. Về phần Tiến, nó thích đàn hát, thích ngắm mây hơn là đọc sách. Nó học giỏi, nhưng vì sợ cha nên mới gắng nhồi nhét chữ nghĩa, chứ tâm nó chưa ngày nào hướng về mớ gia sản ông hứa hẹn sẽ để lại cho. Cha gọi nó là "cái thằng lêu lỏng", nhưng Tiến chỉ mỉm cười, giấu nhẹm giấc mơ vào những trang sổ viết nhạc nguệch ngoạc nét chì.
Rồi một ngày, ông Hội đồng quyết định cho cả hai đứa con lên Sài Gòn học, "để ra dáng người tân học, để giao du với con nhà tử tế, để nên danh với đời." Và cũng vì nơi đó còn có Châu Hưng - con trai ông Châu Vĩnh, người bạn chí cốt từ thuở hàn vi của ông. Tụi nó không phản đối, vì ai mà chẳng hiếu kỳ về một miền đất hứa xa xôi.
Vậy là mọi chuyện hợp lẽ. Cứ như thể định mệnh đã an bài, như chuyện tất yếu phải xảy ra.
Không ai biết vì sao có những người sinh sống ở hai bờ khác nhau của một con sông, rồi sau cùng lại gặp nhau ở nơi đất lạ. Cũng chẳng ai biết vì sao chỉ một cú va khẽ, một ánh nhìn thoáng qua, lại có thể làm chao nghiêng cả một đời.
"Say em thuở ấy tóc nâu,
Thoang thoảng hương nắng, qua cầu gió lay.
Thích em bóng nhỏ loay hoay,
Trăng treo nửa vẹn, môi này nửa nghiêng.
Thương em từ buổi đầu tiên,
Em quay người lại, nắng xiên ngang đời.
Chúm chím miệng gọi khẽ thôi,
Một lời, mà chạm cả trời: "Tiến ơi!"
Lexi
Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top