lsvmtg

Văn minh phưong Đông được hình thành có phần chịu sự ảnh hưởng của tín ngưỡng - tôn giáo

Không chỉ gắn liền với những yếu tố văn hoá mang “tính vật chất” phục vụ trực tiếp đời sống thường nhật của con người,  tính chất nông nghiệp - nông thôn của văn minh phương Đông còn được biểu hiện ở các tín ngưỡng-tôn giáo và sinh hoạt văn hoá dân gian rất độc đáo của khu vực.

Nói đến phương Đông, người ta không thể không nhắc đến những nền văn minh nổi tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Arập, Trung Hoa, không thể không nhắc đến Nho giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Hinđu giáo và hàng loạt tín ngưỡng bản địa mang màu sắc phương Đông.

Có thể nói bao trùm lên đời sống cư dân nông nghiệp phương Đông là niềm tin tín ngưỡng và các sinh hoạt văn hoá dân gian như biểu diễn âm nhạc, múa hát, lễ hội... Tín ngưỡng là cội nguồn của lễ hội. Trong lễ hội thường diễn ra các trò chơi và các hoạt động ca múa dân gian. Lễ hội vừa là dịp tiến hành các nghi lễ có tính ma thuật để cầu xin thần linh giúp đỡ, xua đuổi tà ma, vừa là dịp để người dân vui chơi giải trí. Tín ngưỡng và các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian luôn gắn với cuộc sống của cư dân nông nghiệp, phản ánh sâu sắc nhịp điệu lao động và đời sống tinh thần phong phú của người dân. Tín ngưỡng bản địa và các lễ hội đã trở thành một nhân tố văn hoá đặc sắc gắn bó với các giá trị văn hoá nông nghiệp – nông thôn cổ truyền phương Đông.

Trong số các loại tín ngưỡng tồn tại ở phương Đông, phổ biến nhất là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ở thời kì sơ khai khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, gần như tất cả đều phụ thuộc vào thiên nhiên, vào ý Trời. Vì vậy, ở khắp nơi, từ Đông Bắc Phi – Tây Á đến đất nước mặt trời mọc, các quần đảo Đông Á, từ Bắc Á rồi lưu vực sông Hoàng Hà rộng lớn cho đến các đảo cực nam Indonesia, v.v. đâu đâu người ta cũng thờ cúng các vị Thần liên quan đến sản xuất nông nghiệp như Thần Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần Lúa, Thần Gió, Thần Sông...

Gắn liền với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là hàng loạt các lễ hội nông nghiệp như lễ hội té nước, lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền, lễ hội mừng được mùa...

Ngoài tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, một loại tín ngưỡng nữa cũng khá phổ biến là tín ngưỡng phồn thực.Với ý nghĩa “phồn” - “nhiều”, “thực” - “nảy nở”, tín ngưỡng này mang triết lí sống điển hình cho cư dân nông nghiệp luôn hướng tới sự sinh sôi, là ước mong duy trì và phát triển sự sống. Trong cuộc sống lấy nghề nông làm vi bản, người dân không có mong muốn gì hơn là mùa màng tươi tốt, gia súc đầy đàn, gia đình, con cái đông đúc đề huề. Để phát triển, theo qui luật tự nhiên cần có sự kết hợp giữa hai yếu tố khác loại là mẹ và cha, trời và đất. Bắt đầu từ thực tế cuộc sống, con người nông nghiệp phương Đông đã nâng tư duy phồn thực trở thành một tín ngưỡng quan trọng, gắn nó với hàng loạt nghi thức và lễ hội đa dạng, sống động. Những tín ngưỡng và lễ hội này vừa mang tính chất nguyên sơ, chân thực và thiêng liêng trong tâm thức vừa phản ánh tính chất đặc trưng chung của văn hoá nông nghiệp phương Đông.

Tín ngưỡng và lễ hội phồn thực được biểu hiện ở hai khía cạnh chủ yếu: thờ sinh thực khí và thờ hành vi giao phối. Biểu hiện thờ sinh thực khí có ở nhiều nơi. Nhiều tượng, tháp, hình trụ,... được tạc, đắp theo hình các sinh thực khí nam nữ. Ở Ấn Độ và hàng loạt nước Đông Nam Á, người ta đều tìm thấy rất nhiều linga (sinh thực khí nam). Ngay ở thủ đô Seoul hiện đại ngày nay, ở nhiều nơi, kể cả trước cửa khách sạn cao sao, người ta cũng có thể trưng bày các hình sinh thực khí được đắp rất to. Một số nhạc cụ như chiêng, trống, dùi trống,... cũng mang ý nghĩa biểu tượng của các sinh thực khí. Cũng có khi người ta lại lấy ngay những vật có sẵn hình sinh thực khí trong tự nhiên để thờ cúng. Chẳng hạn, cột đá hình sinh thực khí nam thờ ông Đùng ở Nhân Nghĩa, Lạc Sơn, Hoà Bình hay kẽ nứt Lỗ Lường hình sinh thực khí nữ được thờ ở Sở Đầm, Hòn Đỏ, Khánh Hoà...

Ở Ai Cập cổ đại, tôn giáo giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của cư dân nước này, vì tôn giáo đã thâm nhập vào mọ lĩnh vực sinh hoạt của xã hội. Mặc dù quốc gia Ai Cập được hình thành từ rát sớm, song xã hội Ai Cập phát triển hết sức chậm chạp, khiến cho Ai Cập trong một thời gian dài còn giữ lại nhiều tín ngưỡng tôn giáo nguyên thủy. một trong những hình thức tôn giáo sơ khai còn khá thịnh hành ở Ai Cập là sùng bái động vật và sùng bái tự nhiên. Vì vậy, họ thờ rất nhiều vị Thần khác nhau, từ Thần mang hình súc vật đến những vị Thần mang hình người, từ những Thần tầm thường đến Thần vũ trụ. Người Ai Cập cổ đại cũng sùng bái động vật, theo họ, đông vật là sự hóa thên của các vị Thần. Các loài động vật như rắn, cừu, sói, hạc…đều đuọc coi là những vị Thần. Người ta còn thờ những con vật không có thật như Nhân Sư (Sphinx). Việc sùng bái tự nhiên chiếm một địa vị quan trọng, mọi hiện tượng tự nhiên đều được thần thánh hóa. Vì thế có Thần Mặt Trời Ra, Địa Thần “Ghep” và Thủy Thần Odirit...

Người Ai Cập cũng tin vào lin hồn bất tử. Theo họ, trong mỗi người đều có linh hồn “Ka” đị theo thân thể người như hình với bóng. Khi người chết đi thì “Ka” rời khỏi thể xác và chỉ khi nào xác người bị hủy hoại hoàn toàn thì “Ka” mới chết theo. Nhưng nếu giữ được được xác thì có ngày “Ka” sẽ quay trở lại, người chết sẽ sống lại. Vì thế mà người Ai Cập có tục ướp xác.

Với cư dân Lưỡng Hà, họ theo đa thần giáo. Mỗi quốc gia đều có thần chủ của mình. Người Uruc thờ Thàn Anu, Eridu thờ Thần Eaua. Ngoài các Thần chủ, người Lưỡng Hà còn tôn thờ nhiều thần khác như thần nước Ea và con trai thần. Thần Tammu được coi như vị thần dạy bảo cư dân trồng trọt, làm nghề thủ công và là vị thần của lòng nhân ái, bảo vệ mùa màng. Thần Negan là Thần địa ngục. Nữ thần Iara được gọi là Thần mẹ, thần bảo hộ nông nghiệp và sinh sản. Thần Mặt Trời Samat là thần bảo trợ luật pháp, tòa án. Thời Hamurabi, Thần Marduk đã trở thành vị thần tối cao trong toàn quốc. Nhà vua cũng được thần thánh hóa, thay mặt thần Marduk cai trị muôn dân.

Một trong những nét đặc sắc của tôn giáo ở Ấn Độ đó là sự gắn kết lẫn nhau giữa triết học và tôn giáo, mặc dù đây là hai lĩnh vực khác nhau. Ở Ấn Độ, tư tưởng tôn giáo nổi bật hơn triết học. Ấn Độ là quê hương của nhiều tôn giáo, trog đó quan trọng nhất là đạo Bàlamôn về sau là đạo Hindu và Phật giáo, ngoài ra còn có đạo Sikh, đạo Jain.

Theo kinh Veda, từ khi người Arya đến định cư ở Ấn Độ thì ngoài việc làm ăn sinh sống, họ còn có cả tín ngưỡng và tôn giáo. Ban đầu chưa phải là hệ thống thần thánh hoàn chỉnh mà chỉ là tín ngưỡng linh tinh. Với họ, Yakshas là thần cây, trong đó có bodhi cây đa, naga là rắn thần ( có lẽ là vật tổ của bộ lạc Nagas ở thượng nguồn sông Ấn), Hanuman là thần khỉ, Nandi là thần bò….

Cũng giống như các quốc gia phương Đông khác, với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, tín ngưỡng của cư dân Ấn Độ còn mở rộng đến các lực lượng siêu nhiên như Trời (Varuna) cũng là Cha; Đất (Prithivi) cũng là Mẹ; Lửa (Agni), Gió (Vayu). Ngay như Thần Vishnu ban đầu cũng đồng nhất với Mặt Trời (Surya). Vị thần gần gũi nhất của cư dân Ấn Độ là Indra, thần mưa bão, sấm sét. Như vậy, ở Ấn Độ, xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, cư dân với tín ngưỡng đa thần còn mang nhiều yếu tố linh tinh, tự nhiên.

Theo cùng với sự phát triển của lịch sử Ấn Độ, các tôn giáo cũng lần lượt ra đời. Đạo Bàlamôn, Đạo Phật, Jain, Sikh. Tùy theo sự phát triển của các triều đại phong kiến, trong một giai đoạn nhất định, các tôn giáo này cũng có lúc thịnh lúc suy. Ví như Ấn Độ là quê hương của Phật giáo nhưng Đạo Phật chỉ phát triển thịnh đạt nhất ở thời kỳ vua Asoka. Một thời gian sau, Đạo Phật lại nhường vị trí của mình cho Hindu giáo, nhưng nó lại được truyền bá mạnh mẽ ra các nước trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, Xrilanca, khu vực Đông Nam Á…. Mặc dù vậy, một trong những đặc điểm nổi bật của xã hội Ấn Độ là đã chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo, tôn giáo đã ăn sâu bén rễ vào xã hội Ấn Độ. Vì vậy, nhiều lúc nó cũng gây ra nhiều biến động mang tính bất lợi cho lịch sử Ấn Độ, thậm chí vấn đề này tồn tại cho đến ngày nay.

Trung Quốc cổ đại, ngay từ thời Xuân Thu-Chiến Quốc, các học thuyết tư tưởng lần lượt xuất hiện và nó đã đặt nền móng cho các trường phái tư tưởng của Trung Quốc thời cổ trung đại như Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, trong đó quan trọng nhất là phái Nho gia và Pháp gia.

Pháp gia là trường phái chủ trương dùng pháp luật để trị nước. Phái này xuất hiện từ thời Xuân Thu mà người khởi xướng là Quản Trọng (? - 645 TCN). Tiếp đó, trong thời Xuân Thu-Chiến Quốc, phái này còn xuất hiện nhiều đại biểu, trong đó có thể kể đến Thương Uởng, Thân Bất Hại, Thận Đáo, Lý Tư…Tuy nhiên, người có nhiều đóng góp nhất đối với lý luận của phái Pháp gia là Hàn Phi (khoảng 280-230 TCN).

Nho gia là trường phái tư tưởng quan trọng nhất ở Trung Quốc. Người đặt cơ sở đầu tiên cho Nho gia là Khổng Tử (551-479 TCN), sống vào thời Xuân Thu. Về sau, sang thời kỳ Chiến Quốc, Mạnh Tử (371-289 TCN) đã kế thừa và phát triển học thuyết này. Đến thời Hán, năm 136 TCN, chấp nhận ý kiến của Đổng Trọng Thư (179-104 TCN), Hán Vũ Đế đã ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật”. Từ đó, Nho gia trở thành hệ tư tưởng chính thống trong suốt thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Trung Quốc, Đổng Trọng Thư đã bổ sung học thuyết của Nho gia, làm cho nó trở nên hoàn chỉnh. Sang đến thời Tống, Nho học tiếp tục phát triển, gắn liền với các đại biểu xuất sắc như Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy.

Năm 221 TCN, sau khi kết thúc được cục diện “thất hùng”, thống nhất Trung Quốc, nhà Tần tiếp tục sử dụng tư tưởng Pháp gia làm đường lối trị nước, vì vậy triều Tần sớm bị lật đổ. Từ thời Hán trở về sau, chế độ phong kiến Trung Quốc luôn luôn xem Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống, nó được coi là “mẫu mực”, là “khuôn vàng thước ngọc” để trị quốc. Có thể nói, không chỉ thời cổ đại, đi cùng với sự phát triển của chế độ phong kiến Trung Quốc, Nho giáo luôn giữ vị trí độc tôn, nó đã tác động đến tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Trung Quốc. Nói như thế không có nghĩa là vai trò của Pháp gia bị xem nhẹ. Trên thực tế, mặc dù giai cấp thống trị Trung Quốc luôn luôn khẳng định vai trò độc tôn của Nho giáo nhưng trong đường lối trị quốc của tất cả các triều đại đều đi theo con đường “âm Pháp dương Nho”. Sự kết hợp ấy thậm chí còn tồn tại mãi cho đến đầu thế kỷ XX, khi chế độ phong kiến Trung Quốc sụp đổ.

Sự phát triển của các học thuyết tư tưởng này không chỉ diễn ra trên lãnh thổ Trung Quốc. Cùng với chính sách bành trướng xâm lước của chính quyền phong kiến Trung Quốc cũng như con đường giao lưu văn hóa, hòa hợp tự nhiên, các học thuyết này cũng được truyền bá sang các quốc gia khác trong khu vực và ít nhiều cũng được phát huy được ảnh hưởng của mình.

Có thể nhận thấy rằng, không chỉ riêng thời kỳ cổ đại mà mãi đến sau nay, thậm chí là cho đến ngày nay, tôn giáo luôn có vai trò nhất định đối với xã hội phương Đông. Nhưng khác với phương Tây ở chỗ, xã hội phương Đông không chịu sự ảnh hưởng đậm nét, hay nói cách khác là xã hội phương Đông không chịu sự thống trị của tôn giáo như phương Tây. Chúng ta có thể lý giải điều này từ góc độ của yếu tố kinh tế-xã hội của phương Đông.

Phương Đông, với những điều kiện thuận lợi của mình đã sớm hình thành nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc gắn liền với thiên nhiên. Xuất phát từ đặc điểm ấy, ngay từ đầu, tín ngưỡng - tôn giáo của cư dân phương Đông đã phản ánh rõ nét đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp. Bằng chứng rõ nét nhất là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng phồn thực. Mặc khác, mặc dù bước vào xã hội có giai cấp và nhà nước từ rất sớm (thiên niên kỷ IV TCN), nhưng khác với phương Tây ở chỗ, nhà nước cổ đại phương Đông được hình thành trên hai yếu tố: Một là, trị thủy và làm thủy lợi; hai là, chống giặc ngoại xâm. Xuất phát từ hai yếu tố này, một khối cộng đồng thống nhất đã được gắn kết bền chặt. Vì vậy, dù ít hay nhiều, các giai–tầng trong xã hội cũng có sự liên hệ lẫn nhau. Trong việc kết hợp giữa thế quyền và thần quyền ở phương Đông, mặc dù xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế, nhà Vua phương Đông có quyền lực tối cao và vô hạn cả thế quyền và thần quyền, nhưng công cụ để thống trị đại đa số quần chúng nhân dân vẫn là thế quyền. Do vậy, hệ thống tăng lữ mặc dù có tham gia vào công việc của nhà nước, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi từ nhà nước nhưng họ không thể đưa giáo lý tôn giáo thống trị nhân dân.

Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top

Tags: