hinh thuc phap luat

BÀI BÁO CÁO TÌM HIỂU VỀ HÌNH THỨC PHÁP LUẬT

I. Khái niệm và đặc điểm của hình thức pháp luật

Hình thức pháp luật (hay còn gọi là nguồn pháp luật) là cách thức biểu hiện ý chí của giai cấp thống trị mà thông qua đó, ý chí trở thành pháp luật.

Đặc điểm của hình thức pháp luật:

- Hình thức pháp luật là sản phẩm của t duy trên cơ sở những điều kiện kinh tế khách quan, chế độ chính trị, nền tảng đạo đức xã hội và một phần là dựa trên sự nghiên cứu thực tế. Hình thức pháp luật thờng xuất hiện muộn hơn so với thực tế của đời sỗng xã hội và nó không phải là ý muốn chủ quan của các nhà làm luật.

- Hình thức pháp luật đợc biểu hiện dới những dạng nhất định. Chính vì thế mà nó đã giản lợc việc nhận thức pháp luật, giúp cho mỗi ngời trong xã hội có thể "đo" đợc những hành vi của mình xem mình đợc làm gì, không đợc làm gì và phải làm gì.

- Hình thức pháp luật là công cụ để d luận và xã hội, nhà làm luật can thiệp có hiệu quả vào những tình huống cần thiết và hớng xã hội đến mục đích cụ thể mà giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền đã đặt ra.

II. Các loại hình thức pháp luật

1. Tập quán pháp

- Chúng ta cần phân biệt giữa tập quán và tập quán pháp luật.

Tập quán là các thói quen hình thành lâu đời được mọi người thừa nhận và làm theo.

Tập quán pháp là những tập quán đã lưu truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, được nhà nước phê chuẩn hoặc thừa nhận, nâng chúng thành pháp luật.

- Tập quán pháp là hình thức xuất hiện sớm nhất và được sử dụng nhiều trong các nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến. Trong các nhà nước tư sản hình thức này vẫn được sử dụng ở mức độ đáng kể, nhất là ở các nước có chế độ quân chủ.

- Pháp luật hình thành trên cơ sở là các tập quán. Tuy nhiên, xét về nguồn gốc thì các tập quán hình thành một cách tự phát, chậm thay đổi và thường có tính cục bộ (trong phạm vi hẹp).

- Ưu điểm của cách thức này là các quy định của pháp luật dễ dàng được người dân chấp nhận và tự nguyện, tự giác thực hiện (vì phong tục, tập quán chính là thói quen xử sự của một cộng đồng người nên khi nó chưa là pháp luật thì mọi người cũng đã tự giác thực hiện theo).

- Tập quán pháp là những tập quán có ích sẵn có đối với một nhà nước mới được thành lập. Luật tập quán cũng có thể thích hợp trong các phán quyết tại các hệ thống pháp lý khác trong những lĩnh vực hay vụ việc mà các quy định pháp lý điều chỉnh.

- Tuy nhiên cũng có nhiều quan niệm về tập quán pháp. Ví dụ, tại Austria, các học giả luật tư thông thường cho rằng luật tập quán vẫn còn tồn tại, trong khi các học giả luật công lại không công nhận điều này.

Nước Anh là nước tiêu biểu nhất trên thế giới ban hành pháp luật bằng cách này. Chẳng hạn pháp luật Anh quy định: Khi tham gia giao thông, mọi phương tiện phải di chuyển bên phía tay trái. Quy định này bắt nguồn từ phong tục xa xưa của người Anh là di chuyển bằng ngựa. Khi cưỡi ngựa, người ta thường leo lên lưng ngựa theo hướng bên trái của con ngựa. Và một lí do nữa đó là các chiến binh người Anh thời xưa thường sử dụng ngựa trong các cuộc chiến đấu, họ thường cầm khiên bên tay trái và cầm kiếm bên tay phải, vì thế muốn đánh nhau thì họ phải cho ngựa chạy bên tay trái.

a) Tập quán pháp trong pháp luật Việt Nam

Về mặt nguyên tắc, hình thức tập quán pháp không có khả năng thể hiên được bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa, không thể trở thành một hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có những tập quán tiến bộ thể hiện truyền thống và đạo đức dân tộc, có tác dụng tốt trong việc hình thành các quy phạm pháp luật, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội. Các tập quán này hoặc là được nhà nước tạo điều kiện để phát huy tác dụng, hoặc tổ chức nghiên cứu và đưa chúng thành nội dung của các quy phạm pháp luật.

Việc áp dụng các tập quán cũng được quy định cụ thể. Tập quán được áp dụng phải là tập quán không trái với những nguyên tắc chung của pháp luật, của văn bản pháp luật hữu quan và phải có quy định cho phép. Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật, nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật dân sự (Điều 14 - Bộ luật dân sự năm 1995). Ngược lại với các tập quán tiến bộ, nhà nước luôn chú trọng xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật mới để hướng dẫn, điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động thu hẹp dần phạm vi ảnh hưởng của các tập quán lạc hậu, tiến tới xóa bỏ chúng.

Trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, Nhà nước ta đã thừa nhận một số tập quán. Việc thừa nhận này trước hết thông qua một quy định mang tính nguyên tắc thể hiện tại Điều 3: "Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong BLDS"

Đồng thời, để cụ thể hóa nguyên tắc nói trên, BLDS năm 2005 cũng đã đưa ra nhiều quy định chi tiết thừa nhận tập quán trong một số trường hợp xác định.

Cụ thể như, áp dụng tập quán điều chỉnh quan hệ nhân thân. Trong số những quyền nhân thân được BLDS năm 2005 ghi nhận, bảo vệ thì quyền xác định dân tộc là quyền có sự tham gia điều chỉnh của tập quán pháp. Khoản 1 Điều 28 BLDS năm 2005, quy định: "Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ". Như vậy tập quán của dân tộc về việc lựa chọn dân tộc cho con khi cha mẹ khác nhau về dân tộc được nhà nước thừa nhận, coi như pháp luật.

Bên cạnh đó, áp dụng tập quán trong một số vấn đề liên quan đến giao dịch dân sự như giải thích giao dịch dân sự (bao gồm cả hợp đồng dân sự); hình thức giao dịch hụi, họ; giao dịch thuê tài sản.

Theo Khoản 1 Điều 126 BLDS năm 2005, khi giao dịch dân sự có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì việc giải thích giao dịch đó được thực hiện theo thứ tự:

- Theo ý muốn đích thực của các bên khi xác lập giao dịch;

- Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch;

- Theo tập quán nơi giao dịch được xác lập.

Như vậy, tập quán nơi giao dịch được xác lập nếu được lựa chọn để giải thích giao dịch dân sự thì đó chính là tập quán pháp. Phù hợp với quy định đó, Khoản 4 Điều 409 BLDS 2005 quy định: khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm nơi giao kết hợp đồng. Đặc biệt, giao dịch hụi, họ, biêu, phường được BLDS ghi nhận ở Khoản 1 Điều 479 là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán.

Áp dụng tập quán trong vấn đề xác lập quyền sở hữu chung, hình thành, quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung của cộng đồng. Việc xác lập quyền sở hữu chung có thể được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu, theo quy định của pháp luật và cũng có thể được hình thành theo tập quán (Điều 215 BLDS năm 2005). Riêng đối với sở hữu chung của cộng đồng thì việc hình thành, quản lý, sử dụng, định đoạt có thể theo thỏa thuận hoặc theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 220 BLDS năm 2005).

Áp dụng tập quán trong vấn đề nghĩa vụ dân sự. Có rất nhiều loại nghĩa vụ cụ thể được quy định trong BLDS năm 2005, nhưng chỉ có ba loại nghĩa vụ sau đây có sự tham gia điều chỉnh của tập quán, đó là nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra và nghĩa vụ tài sản liên quan đến thừa kế. Tại Khoản 1 Điều 265 BLDS năm 2005 quy định việc xác định ranh giới giữa các bất động sản có thể theo tập quán. Đến Điều 625, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được quy định tại Khoản 4 là nếu súc vật thả rông theo tập quán gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật phải bồi thường theo tập quán. Liên quan đến vấn đề thừa kế, Điều 683 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ, ngay tại Khoản 1, chi phí đầu tiên được ưu tiên thanh toán chính là chi phí mai táng hợp lý theo tập quán.

b) Tập quán pháp trong quan hệ quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập của Việt Nam hiện nay, vấn đề tập quán quốc tế cũng là vấn đề cần được quan tâm.

Tại Khoản 4 Điều 759 của BLDS năm 2005, nguyên tắc áp dụng tập quán quốc tế được quy định như sau: "Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Trên thực tế, các tập quán này được áp dụng rất nhiều trong hoạt động thương mại quốc tế.

Ngoài các lĩnh vực về kinh tế, tập quán pháp cũng được áp dụng nhiều trong các lĩnh vực khác. Tập tục về chiến tranh như không giết người thuộc các lực lượng vũ trang đối phương khi họ bị loại ra khỏi vòng chiến đấu, cho phép nước chủ quản nhận thương binh, bệnh binh của họ trở về nước trong lúc chiến tranh chưa kết thúc. Các tập quán quốc tế hiện còn được giữ lại nhiều là các tập quán về cứu hộ người, phương tiện trên biển. Các tàu thuyền đi lại trên phải biển phải cứu vớt, chăm sóc cho các nạn nhân, tàu thuyền gặp tai nạn trên biển, nước chủ nhà không được bắt giữ mà phải cứu hộ và cung cấp lương thực, nước ngọt để các tàu thuyền lâm nạn trôi giạt vào lãnh thổ của mình trở về nước họ, vv. Tập quán quốc tế là một trong những nguồn của công pháp quốc tế. Nhiều tập quán quốc tế ngày nay đã được thừa nhận và ghi vào các điều ước quốc tế, trong trường hợp này tập quán quốc tế đã trở thành công ước quốc tế như công ước về bảo hộ nạn nhân chiến tranh. Có những nước không tham gia điều ước quốc tế nhưng không phản đối và chấp nhận việc thi hành nó, trong trường hợp này điều ước quốc tế trở thành tập quán quốc tế đối với nước không tham gia công ước.

2) Tiền lệ pháp

- Tiền lệ pháp là việc nhà nước thừa nhận các bản án của Toà án hoặc quyết định của cơ quan hành chính trong quá trình xét xử một vụ án hoặc giải quyết một sự việc trước đó, lấy các bản án hoặc quyết định đó làm căn cứ để giải quyết những sự việc tương tự xảy ra sau này.

- Theo các nhà làm luật Anh thì tiền lệ pháp có rất nhiều ưu điểm.

+ Thứ nhất,các đối tượng liên quan trong vụ án có thể biết trước các hậu quả pháp lý của vụ việc vì họ biết các quyết định này không phải là các quyết định tùy tiện của các thẩm phán mà các thẩm phán đã dựa vào các quyết định của các vụ việc trước đó.

+Thứ hai,tiền lệ được đưa ra từ thực tiễn, trong khi các đạo luật lại ít nhiều căn cứ vào lý thuyết và suy luận mang tính lô gích; tiền lệ hình thành từ các hoàn cảnh khác nhau trong đời sống do đó nó điều chỉnh được hầu hết các quan hệ xã hội phát sinh.

+Thứ ba,tiền lệ tạo điều kiện cho thẩm phán đưa ra nhiều tư tưởng mới trong lĩnh vực áp dụng pháp luật tùy theo điều kiện, hoàn cảnh xã hội phát sinh ra các quan hệ pháp luật.

+Thứ tư,đó là tính linh hoạt của tiền lệ pháp, thuộc tính này phụ hợp với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội. Trong khi sự thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật cần phải một thời gian nhất định thì tiền lệ pháp lại đáp ứng ngay những đòi hỏi của thực tiễn.

- Tuy nhiên việc áp dụng hình thức tiền lệ pháp gặp phải những bất cập nhất định.

+Thứ nhất,do các quyết định và bản án quá nhiều và liên tục tăng theo thời gian nên gây rất nhiều khó khăn trong quá trình vận dụng.

+Thứ hai,bên cạnh tính linh hoạt thì nó cũng chứa đựng sự cứng nhắc vì thẩm phán buộc phải tuân thủ theo những tiền lệ mà họ cho rằng không đầy đủ hoặc không mang giá trị pháp lý cao.

+Thứ ba,thẩm phán sẽ khó khăn khi nhận định trong những điều kiện hoàn cảnh như nhau nhưng tình tiết vụ việc lại hoàn toàn khác nhau; trong trường hợp này, thẩm phán phải so sánh và hình thành nên một tiền lệ mới, và như vậy sẽ làm phức tạp thêm khi áp dụng luật.

+Thứ tư,nó không mang tính hệ thống và tính khái quát vì án lệ được hình thành theo những tình tiết của mỗi vụ việc.

+Thứ năm, tiền lệ pháp hình thành không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp mà xuất hiện từ hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp. Vì vậy, hình thức này dễ tạo ra sự tuỳ tiện, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối cao của luật và phải phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật.

- Các nước theo hệ thống thông luật đã đưa ra một số nguyên tắc trong việc xây dựng án lệ gồm những quy định sau:

+ Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa án cấp cao hơn trong cùng hệ thống hoặc của chính tòa án đã ra tiền lệ.

+ Những quyết định của tòa án thuộc hệ thống khác chỉ có giá trị tham khảo.

+ Chỉ có những phần quyết định dựa trên chứng cứ pháp lý của vụ án thì mới có giá trị bắt buộc để ra quyết định cho vụ án sau này. Những nhận định hoặc quyết định của tòa án trước đó đối với một vụ án không dựa trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên cơ sở bình luận của thẩm phán sẽ không có giá trị bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân thủ. Như vậy, không phải tất cả những phần nêu ra trong một bản án đều bắt buộc trở thành tiền lệ pháp. Cơ sở pháp lý là nguyên tắc pháp lý để tòa quyết định vụ việc và nó mang tính chất bắt buộc. Còn phần bình luận chỉ là việc nêu ra những lý lẽ, giải thích thêm của thẩm phán về vụ việc đã qua và do đó nó không mang tính bắt buộc cho những trường hợp sau này. Những lý do mà các thẩm phán đưa ra để giải thích thêm nằm ngoài phạm vi của cơ sở pháp lý và họ cũng không cần kiểm tra cũng như xem xét đến hậu quả của nó. Mục đích của việc đưa ra luận cứ này chỉ mang tính chất là giải thích hay minh họa để phân biệt giữa vụ việc này với vụ việc khác mà thôi.

+ Yếu tố thời gian không làm mất đi tính hiệu lực của tiền lệ.

- Hệ thống tiền lệ pháp được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là các quốc gia trongKhối Thịnh vượng chung Anh, bao gồmAnh Quốc, hầu hết các tiểu bang củaMỹ(ngoại trừ tiểu bangLouisiana,Canada(ngoại trừ tỉnh bangQuébec) và các thuộc địa trước kia của Anh.

+ Ví dụ trong vụ án Elizabeth Manley. Elizabeth Manley đã trình báo với cảnh sát rằng có một người đàn ông đã đánh cô và lấy toàn bộ tiền bạc. Tuy nhiên khi cảnh sát tiến hành điều tra đã phát hiện vụ việc trên là không có thật. Tòa án đã kết tội Elizabeth Manley với tội danh "làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng". Tội danh này không có quy định trong luật. Do đó, tòa đã đưa ra hai lý do và sau đó hình thành nên tiền lệ. Thứ nhất, đặt người vô tội trước nguy cơ bị bắt giữ; thứ hai, là tốn thời gian và công sức của cảnh sát cho quá trình điều tra một vụ việc không có thật.

Vụ án Elizabeth Manley đã hình thành nên tiền lệ trong phán quyết của tòa án: "Bất kỳ người nào đặt người vô tội vào tình trạng bị truy tố và làm cảnh sát phải điều tra một vụ án không có thật thì bị buộc vào tội danh gây rối, ảnh hưởng đến trật tự công cộng".

+ Sau đó là vụ án của bà May Jones. Bà Jones đang đi mua sắm ở cửa hàng thì phát hiện mình bị mất chiếc ví. Bà ta nhớ lại trước đây ít phút, có một người đàn ông đã đi lướt quavà chạm vào người bà. Bà ta lập tức báo cảnh sát và miêu tả nhân dạng người đàn ông ấy. Ngày sau đó, cửa hàng gọi điện thoại đến và báo rằng bà Jones đã để quên ví tiền tại cửa hàng. Trong vụ này, bà Jones cũng bị kết tội như cô Manley vì đã làm cảnh sát điều tra một vụ việc không có thật và đặt người vô tội trước rủi ro bị truy tố.

- Trong chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ (nhất là thời kỳ sau cách mạng), do hệ thống pháp luật chưa được xây dựng hoàn chỉnh, trước yêu cầu của cách mạng cần phải giải quyết ngay một số vụ việc, trong các nhà nước XHCN vẫn còn sử dụng hình thức này. Nhưng đó là sự vận dụng linh hoạt dựa trên cơ sở của luật và đường lối chính sách của Đảng. Khi hệ thống pháp luật được xây dựng đồng bộ, hoàn chỉnh thì hình thức này không được coi là hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa và ít được sử dụng trong các nhà nước XHCN.

Tuy nhiên, hiện nay đứng trước những yêu cầu cấp bách cần phải giải quyết ngay một số vụ việc cần thiết, đồng thời trong quá trình toàn cầu hoá, mở cửa và hội nhập đòi hỏi sự hội nhập của pháp luật các nước xã hội chủ nghĩa. Do vậy, hình thức tiền lệ pháp, nhất là án lệ cũng được sử dụng nhiều hơn ở các nước XHCN. Biểu hiện cụ thể cho việc này ở nước ta chính là việc sử dụng những quy định hướng dẫn xét xử trong nhiều công văn, thông tư của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đối với các toà án cấp dưới trong quá trình xét xử mà những hướng dẫn này là kết quả thu được từ kinh nghiệm xét xử được TANDTC nghiên cứu và hệ thống hoá thành các quy định để hướng dẫn toà án cấp dưới trong công tác xét xử. Một biểu hiện gần đây nhất chính là việc TANDTC đã xuất bản hai tập quyết định giám đốc thẩm bao gồm các quyết định dân sự và hình sự.

3) Văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật, hình thức pháp luật tiến bộ nhất, là hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống.

- Từ định nghĩa trên có thể rút ra những nhận xét sau:

+ Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Nghĩa là, không phải mọi văn bản đều có thể gọi là văn bản quy phạm pháp luật, mà chỉ những văn bản nào được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (theo luật định) ban hành mới có thể trở thành văn bản quy phạm pháp luật.

+ Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật). Những văn bản mặc dù có ý nghĩa pháp lý nhưng không chứa đựng quy tắc xử sự chung thì cũng không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Chẳng hạn, Nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể ra các văn bản mang tính chính trị như: lời kêu gọi, hiệu triệu, tuyên bố, thông báo ... Các văn bản đó mặc dù có ý nghĩa pháp lý, nhưng không là văn bản quy phạm pháp luật.

+ Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống, được áp dụng trong mọi trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra. Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật khác với các văn bản cá biệt hoặc các văn bản áp dụng pháp luật. Ví dụ: Một quyết định phân nhà ở, giải quyết chế độ hưu trí, hay một bản án, không phải là những văn bản quy phạm pháp luật.

+ Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật.

- Có thể nói ban hành pháp luật bằng cách này là phổ biến nhất hiện nay trên thế giới được nhiều quốc gia áp dụng bởi các ưu điểm của nó so với 2 cách thức trên :

+ Pháp luật được ghi nhận ở hình thức văn bản bằng một ngôn ngữ pháp lý nên các quy định của pháp luật sẽ chính xác, rõ ràng, cụ thể hơn (đây là ưu điểm mà các cách thức ban hành pháp luật khác không có)

+ Nhà nước sẽ điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách nhanh chóng (các sự việc xảy ra trên thực tế nếu cần có pháp luật điều chỉnh thì nhà nước chỉ cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn đề đó là xong).

+ Các quy định của pháp luật dễ dàng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới bằng cách ban hành văn bản mới thay thế cho văn bản cũ.

- Bên cạnh những ưu điểm nổi bật trên thì cách thức này cũng có một số nhược điểm mà các quốc gia ban hành pháp luật theo cách thức này đang gặp phải, đó là:

+ Văn bản quy phạm pháp luật là do rất nhiều cá nhân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (ở Việt Nam thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật) vì thế dẫn đến tình trạng số lượng các văn bản quá nhiều làm cho hệ thống pháp luật cồng kềnh và tình trạng các quy định của pháp luật bị mâu thuẫn, chồng chéo diễn ra khá phổ biến (do có nhiều người ở nhiều cấp khác nhau được ban hành nên cấp này ban hành đôi khi không nắm được cấp khác đã ban hành và quy định về vấn đề đó như thế nào).

+ Việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật diễn ra nhiều làm cho người dân không nắm rõ các quy định của pháp luật (chưa kịp nắm và hiểu rõ quy định cũ thì Nhà nước đã ban hành văn bản mới). Điều này làm cho người dân gặp nhiều khó khăn trong việc chấp hành pháp luật và Nhà nước phải mất nhiều thời gian, công sức cho việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

- Trong các nhà nước tư sản thì văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng rộng rãi với các hình thức như Hiến pháp, luật, sắc lệnh ...

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện nay của Nhà nước ta bao gồm:

+ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

+ Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

+ Nghị định của Chính phủ

+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

+ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

+ Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.

+ Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.

+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân Tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng , Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

+ Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân (bao gồm nghị quyết của Hội đồng nhân dân và nghị quyết chỉ thị của Uỷ ban nhân dân)

* * *

Ngoài những loại nguồn chủ yếu của pháp luật đã xem xét trên đây thì nhiều quốc gia còn xây dựng hệ thống pháp luật của mình trên cơ sở các nguyên lý tôn giáo. Hệ thống có ảnh hưởng lớn nhất trong dạng này là Sharia, hay luật Hồi giáo. Tuy nhiên, pháp luật của các nước đạo Hồi (Islam) không phải là lĩnh vực khoa học độc lập mà nó là một trong những phần hợp thành của đạo Hồi. Do đạo Hồi hình thành từ thời trung cổ nên pháp luật đạo Hồi là tập hợp của nhiều quy định riêng lẻ và thiếu sự hệ thống hoá.

Ngày nay, pháp luật đạo Hồi vẫn tiếp tục là một trong những hệ thống lớn của thế giới đương đại và điều chỉnh các mối quan hệ của hơn 800 triệu người dân đạo Hồi, trong khoảng 30 quốc gia. Nhưng không một quốc gia nào trong số đó được định hướng chỉ bằng pháp luật đạo Hồi. Các tập quán và pháp luật thành văn đã bổ sung hoặc sửa đổi pháp luật đạo Hồi.

Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top

Tags: #devil