Bai 20
7. Cuộc tiến công chiến lược 1953 - 1954 và chiến dịch lịch sử ĐBP
a) Kế hoạch quân sự Nava của Pháp - Mĩ.
Yêu cầu : + Hoàn cảnh lịch sử
+ Nội dung và các bƣớc thực hiện
+ Nhận xét
Sau gần 7-8 năm tiến hành chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam, nhất là những chiến
dịch tấn công và phản công của quân ta từ cuối 1950 đến giữa 1953 đã tiêu diệt tiêu hao
lớn 1 bộ phận sinh lực địch và tổn thất nặng nề về tài chính. Tính đến 1953 số quân địch
thiệt hại đã lên tới 39.000 tên, pháp đã phải tiêu tốn đến 2000 tỉ frăng mà vùng chiếm
đóng ngày càng bị thu hẹp, pháp ngày càng bị đẩy sâu vào thế bị phòng ngự.
Những thất bại dồn dập về quân sự cùng với những khó khăn về kinh tế của Pháp ở
Đ D đã tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị nƣớc pháp, gây nên cuộc khủng hoảng
nội các sâu sắc trong vòng 8 năm, chính phủ đã 17 lần lập nên rồi đổ xuống đã làm bùng
lên 1 phong trào đấu tranh của nhân dân đòi CP phải chấm dứt chiến tranh xâm lƣợc Đ
D.
Mặc dù khó khăn TD pháp vẫn chƣa chịu từ bỏ Đ D vì vậy lối thoát duy nhất của
pháp lúc này là phải dựa vào mĩ , xin thêm viện trợ để đẩy mạnh chiến tranh xâm lƣợc
giành thắng lợi quân sự quyết định hòng kết thúc chiến tranh trong danh dự.
Về phía Mĩ từ lâu Mĩ đã nuôi dƣỡng ý đồ thay chân pháp độc chiếm VN và Đ/D
hòng biến nơi này thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của mĩ. Thực hiện âm mƣu
đó Mĩ đã tìm cách lợi dụng những khó khăn của pháp để can thiệp ngày càng sâu hơn vào
Đ/D mĩ đã tăng cƣờng viện trợ cho pháp = đô la (nếu nhƣ 1950 viện trợ của mĩ cho pháp là 55 tỉ fr thì đến 1954 số viện trợ lên đến 555 tỉ fr), vũ khí. Qua đó buộc Pháp kéo dài
chiến tranh mở rộng và quốc tế hoá chiến tranh.
Ngày 7/5/1953 đƣợc sự thoả thuận của mĩ chính phủ Pháp đã cử tƣớng Nava sang
Việt Nam làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh pháp ở Đ/D. SAu khi sang Đ D Na va đã
nhanh chóng phác thảo ra một kế hoạch quân sự mới đƣợc gọi là kế haọch quân sự nava
với mục đích xoay chuyển toàn bộ cục diện chiến tranh để chuyển bại thành thắng.
Kế hoạch quân sự nava chia thành hai bƣớc và dự định thực hiện trong vòng 18 tháng.
Bước 1: (từ thu đông 1953 - xuân 1954) giữ thế phòng ngự chiến lƣợc ở chiến
trƣờng miền bắc, tuyệt đối tránh giao tranh với quân chủ lực của ta, thực hiện tiến công
chiến lƣợc ở chiến trƣờng miền nam đồng thời mở rộng nguỵ quân, tập trung binh lực
xây dựng 1 lực lƣợng cơ động.
Bước 2: (thu đông 1954 - xuân 1955) : ở lực lƣợng ra chiến trƣờng miền bắc thực
hiện tấn công chiến lƣợc cố giành thắng lợi quyết định buộc ta phải đàm phán theo những
điều kiện có lợi cho chúng.
Kế hoạch quân sự nava là kế hoạch lớn nhất và cuối cùng của thực dân pháp có sự can
thiệp của đế quốc mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lƣợc Đ D.
Để thực hiện kế hoạch trên pháp đã tăng cƣờng lực lƣợng, chuyển lực của pháp =
cách gấp rút đƣa 12 tiểu đoàn bộ binh từ pháp, bắc phi và nam triều tiên , angiêri sang Đ
D. TĂng cƣờng xin thêm viện trợ . Tăng cƣờng xây dựng lực lƣợng nguỵ quân = cách ra
sức dồn quân bắt lính, đƣa lực lƣợng nguỵ quân lên đến 339.000 ngƣời đầu 1954; tính
đến thu đông 1953 toàn Đ D có đến 84 tiểu đoàn cơ động mạnh trong đó có 44 tiểu đoàn
tập trung ở đồng bằng bắc hộ, hành động theo khẩu hiệu "Luôn chhủ động,luôn tấn
công" chúng đã tăng cƣờng mở các cuộc càn quét ở đồng bằng bắc bộ bình trị thiên, nam
bộ, bình định, tiến hành hoạt động thổ bổ, biệt kích ở vùng rừng núi biên giới, mở những
cuộc tấn công lớn vào vùng giáp giới Ninh bình, Thanh Hoá.
kế hoạch quân sự Nava ra đời trong thế thất bại, but cũng thể hiện những cố gắng những
nỗ lực cuối cùng của pháp mĩ nên âm mƣu của nó rất nham hiểm, rất xảo quệt, đã đƣa
cuộc kháng chiến của nhân dân ta bƣớc vào giai đoạn gay go hơn, quyết liệt hơn.
b) Cuộc tấn công chiến lược của ta trong đông xuân 1953-1954.
Chủ trương:
Trƣớc sự thay đổi của cục diện chiến tranh ở Đ/ D và trên cơ sở nhận định âm
mƣu mới của Pháp mĩ tháng 9/1953 bộ chính trị TW đảng họp và đề ra kế hoạch tác
chiến ĐX 1953-1954 với phƣơng hƣớng chiến lƣợc.
quyết tâm giữ vững chủ quyền chủ động chiến lƣợc ở cả 2 mặt trận chính diện và sau
lƣng địch. Phối hợp hoạt động trên phạm vi cả nƣớc và toàn Đ/D.
Tập trung lực lƣợng mở những cuộc tiến công lớn vào những hƣớng quan trọng
mà địch tƣơng đối yếu. Nhằm tiêu diệt 1 bộ phận sinh lực địch giải phóng đất đai, buộc
địch phải phân tán lực lƣợng để đối phó với ta trên những điểm xung yếu mà chúng
không thể bỏ, tạo điều kiện thuận lợi nhất mới cho ta tiêu diệt từng bộ phận sinh lực
địch.
Phƣơng châm chiến lƣợc của ta là "Tích cực, chủ động, sáng tạo, linh hoạt, đánh
ăn chắc, tiến ăn chắc, chắc thắng thì đánh cho kỳ thẳng, không chắc thắng kiên quyết
không đánh" .
* Diễn biến:
Thực hiện chủ trƣơng trên trong ĐX 1953 - 1954 quân ta đã mở 1 loạt chiến dịch
tiến công địch trên nhiều hƣớng ở hầu khắp các chiến trƣờng Đ/D .
Ngày 10/12/1953 quân ta tấn công địch ở Lai Châu bao vây uy hiếp địch ở ĐBP.
Sau 10 ngày ta giải phóng toàn bộ Lai châu tiêu diệt 24 đại đội địch. Bị tấn công bất ngờ
NAVa vội vã điều động 6 tiểu đoàn cơ động ở đồng bằng bắc bộ lên tăng cƣờng cho
ĐBP, biến ĐBP trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ 2 sau đồng bằng bắc bộ.
cũng đầu tháng 12/1953 quân dân ta đã phối hợp với quân dân lào tấn công trung
lào, giải phóng thị xã Thà Khẹt tỉnh khăn muộn, uy hiếp dữ dội sênô khiến cho nava lại
phải vội vã điều quân từ đồng bằng bắc bộ sang ứng cứu cho sênô (tập trung binh lực lớn
thứ 3).
Đến đầu tháng 2 năm 1954 quân ta tiến công địch ở Bắc Thái nguyênb giải phóng
Kontum uy hiếp Playku. Nava lại phải điều quân từ Nam tây nguyên lên ứng cứu cho
playku, playku trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ 4.
Cùng thời gian trên tháng 2 năm 1954 để đánh lạc hƣớng phán đoán của địch tạo diều
kiện cho ta đẩy mạnh mọi công tác chuyển bị ĐBP bộ độ chủ lực ta phối hợp với bộ đội
pathet lào mở cuộc tấn công ở thƣợng lào, giải phóng Nậm Hu, phong xa lì, uy hiếp
luông pha băng và mƣờng Sài. Nava lại vội vã tăng cƣờng lực lƣợng chốt giữ luông pha
băng, biến nơi này thành nơi tập trung binh lực lớn thứ 5 của mình.
Phối hợp với mặt trận chính diện chiến tranh du kích vùng sau lƣng địch phát triển
mạnh, đã tiêu diệt, hiêu hao nhiều sinh lực địch đánh phá đƣờng giao thông, sân bay,
kho tàng của địch buộc chúng phải bị động đối phó với ta,không có khả năng tiếp ứng
cho chiến trƣờng chính diện .
Các cuộc tiến công chiến lƣợc của ta trong ĐX 53-54 đã bƣớc đầu làm cho kế hoạch nava
bị phá sản.
c) chiến dịch lịch sử ĐBP xuân hè 1954.
Yêu cầu: - Âm mƣu của pháp trong việc chiếm đóng ĐBP
- chủ trƣơng và quyết tâm của ta.
- Diễn biến
- Kết quả và ý nghĩa
Bài làm:
Âm mưu của pháp:
Đầu 1953 TD pháp ngày càng bị xa lầy trong vũng bùn của cuộc chiến tranh Đ D
và ngày càng bị thiệt hại nặng nề. T5.1953 CP pháp đã cử đại tƣớng Nava sang làm tổng
tƣ lệnh quân đội viễn chinh pháp ở ĐD sau khi sang Đ D nava đã đề ra kế hoạch quân
sự mới lấy tên là kế hoạch quân sự nava. Trong quá trình thực hiện kế hoạch nava cuối
1953 phát hiện ta di chuyển lực lƣợng, chuyển lực lên tây bắc pháp đã vội vã điều động 1 đội quân cơ động nhảy dù tăng cƣờng cho lực lƣợng chiếm đóng ĐBP nhằm che chắn
bảo vệ vùng đất tây bắc và thƣợng lào.
ĐBP là 1 thung lũng rộng lớn ở phía tây vùng rừng núi tây bắc, có lòng chảo
Mƣờng thanh đƣợc pháp xây dựng 1889. ĐBP là một vị trí chiến lƣợc quan trọng, chẳng
những đối với chiến trƣờng Đ D mà còn đối với miền đông nam á. Nó giống nhƣ một
bàn xoay có thể xoay đi 4 phía : VN, lào, miến điện, T. Quốc. Bởi vậy cả pháp và mỹ đều
đánh giá ĐBP là một địa bàn có vị trí chiến lƣợc trọng yếu vào bậc nhất Đ , có thể xây
dựng thành 1 căn cứ quân sự chiến lƣợc lợi hại, phục vụ âm mƣu xâm lƣợc ĐD và ĐNA.
Khi phát hiện ta hành quân lên tây bắc NAVa đã quyết định biến ĐBP thành tập đoàn cứ
điểm mạnh nhất ĐD và là trung tâm điểm của kế hoạch nava.
đƣợc mĩ giúp sức pháp xây dựng ĐBP thành 1 tập đoàn cứ điểm mạnh gồm 49 cứ điểm
chia thành 3 cụm cứ điểm chính: phân khu bắc, phân khu trung tâm Mƣờng Thanh, phân
khu Nam lực lƣợng của pháp ở ĐBP lúc đông nhất là 16.200 tên gồm đủ các binh
chủng, hai sân bay, hai trung tâm chỉ huy cùng hệ thống phòng ngự rất kiên cố. ĐBP đã
trở thành nơi tập trung lực lƣợng lớn thứ 2 sau đồng bằng bắc bộ.
* Chủ trương và quyết tâm của ta:
Tháng 9/1953 bộ chính trị đã họp và bàn về chủ trƣơng tác chiến trong đông xuân
1953 - 1954 và đề ra phƣơng hƣớng của cuộc tiến công chiến lƣợc đông dƣơng 1953 -
1954 là : nhằm phá tan kế hoạch quân sự nava.
Căn cứ vào tƣơng quan lực lƣợng giữa ta và địch bộ chính trị đã quy định điều
động lực lƣợng chuyển lực lƣợng giải phóng tây bắc, tạo điều kiện đẩy mạnh chiến tranh
du kích ở ĐBP.
Đến tháng 12/1953 sau khi phát hiện địch đổ quân tăng cƣờng ĐBP biến ĐBP trở
thành trung tâm điểm kế hoạch nava, bộ chính trị đã họp và nhận định ĐBP là một tập
đoàn cứ điểm mạnh nhƣng có điểm yếu là dễ bị cô lập. Về phía quân ta bộ chính trị nhận
định: bộ đội ta đã trƣởng thành và có thể đánh đƣợc tập đoàn cứ điểm mạnh của địch,
hậu phƣơng của ta đang chuyển mạnh trong cải cách ruộng đất , chúng ta có thể khắc
phục đƣợc những khó khăn về nhân lực, đƣờng xá để vận tải tiếp tế hậu cần cho chiến
dịch .
Trên cơ sở những nhận định đó bộ chính trị và Hồ chủ tịch quyết định mở chiến dịch
ĐBP. HCT xác định "chiến dịch này là chiến dịch rất quan trọng, không những về mặt
quân sự mà cả về chính trị, không những trong nƣớc mà cả quốc tế vì vậy phải hoàn
thành cho kỳ đƣợc, khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng địch ở ĐBP"
thể hiện quan tâm của ta.
Sau 1 quá trình chuẩn bị kỹ lƣỡng 17h30' 13.3.1954 quân ta đƣợc lệnh nổ súng tiến
công mở màn chiến dịch .
* Diễn biến:
Chiến dịch diễn ra trong 56 ngày đêm qua 3 đợt công kích cuối cùng quân ta đã
giành đƣợc thắng lơị hoàn toàn.
Đợt I từ 13/3 - 17/3/1954 :quân ra dùng pháo bắn phá và tiến công các vị trí phòng thủ của địch ở phía bắc, tiêu diệt các cứ điểm kim lam, độc lập, bản kéo. Sau 4 ngày
chiến đấu ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 2000 tên địch, bắn rơi và phá huỷ 26 máy bay,
thu nhiều phƣơng tiện chiến tranh của địch.
Đợt II từ 30/3 - 26/4/1954: quân ta liên tiếp mở nhiều đợt tấn công đánh vào
phòng thủ phía đông trung tâm Minh thanh, gồm hệ thống phòng thủ trên các dãy đồi A,
D, C, E cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng gay go, ác liệt nhất là trên các quả đồi A1, C1,
D1, E1. Ta đã lần lƣợt đánh chiếm đƣợc phần lớn các vị trí của địch tạo thêm điều kiện
bao vây chia cắt chúng. Khống chế ĐBP = 1 hệ thống hào chằng chịt nhƣ "1 sợi dây
thòng lòng khổng lồ xiết chặt yết hầu của pháp ở ĐBP" quân pháp ở ĐBP lâm vào tình
trạng vô cùng khốn quẫn, đang đứng trƣớc nguy cơ bị tiêu diệt, mĩ phải tăng cƣờng viện
trợ khẩn cấp và trực tiếp cho pháp ở đông dƣơng. Chúng còn đe doạ sẽ ném bom nguyên
tử ở ĐBP.
Quân ta kịp thời khắc phục khó khăn, củng cố lực lƣợng , nâng cao quyết tâm
giành thắng lợi hoàn toàn.
Đợt III từ 1-7/7/1954 : Ta đồng loạt tấn công trung tâm MThanh và phân khu N,
sau nhiều cuộc chiến đấu giằng co ác liệt chiều 6/5 ta đã chiếm và làm chủ hoàn toàn đồi
A1, Quân địch ở ĐBP lâm vào tình trạng gần nhƣ tuyệt vọng, lũ lƣợt kéo cờ trắng xin
hàng. Các mũi tấn công của ta đƣợc lệnh đồng loạt tổng công kích vào trung tâm MT,
17h30' ngày 7/3/1954 quân ta tiến vào sở chỉ huy của địch ở trung tâm MT, bắt sống
Đờ cát cùng toàn bộ ban tham mƣu chiến dịch hoàn toàn thắng lợi.
* Kết quả:
Ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch trong đó có 1 thiếu tƣớng, 16 sĩ quan
cấp tá, toàn bộ quân địch ở ĐBP gồm lực lƣợng bộ binh, công binh, xe tăng, pháo binh,
không quân bị loại khỏi vòng chiến đấu.
Bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay, thu hồi toàn bộ vũ khí và phƣơng tiện chiến tranh,
cơ sở vật chất kỹ thuật các loại cùng nhiều hàng hoá, quân trang, quân dụng khác.
Làm phá sản hoàn toàn kế hoạch quân sự nava, ý đồ chiến lƣợc của pháp ở đông
dƣơng, hoàn thành thắng lợi những mục tiêu cơ bản của chiến dịch đông xuân 1953 -
1954.
Giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, quan trọng về chiến lƣợc, phói hợp với chiến
trƣờng cả nƣớc nhân dân ta đã giành quyền làm chủ 3/4 đất nƣớc, ngụy quyền hoang
mang, nguỵ quân tan rã từng mảng lớn, góp phần đƣa đến hiệp định giơnevơ ở Đ/D.
* ý nghĩa:
ĐBP là chiến dịch tấn công lớn nhất của quân ta trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lƣợc, đây là thắng lợi oanh liệt nhất trong cuộc kháng chiến, là "một
cột mốc lịch sử = vàng " thắng lợi này đƣợc ví nhƣ 1 bạch đằng, chống xâm lƣợc của dân
tộc Việt Nam, chiến thắng ĐBP mang tầm cỡ quốc tế "Lừng lẫy năm châu chấn động địa
cầu".
chiến thắng ĐBP đã mở ra khả năng kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến. Với thắng lợi
này quân ta đã giành đƣợc thế chủ động trên khắp chiến trƣờng thực hiện mục tiêu cơ bản
của chiến cuộc ĐX 1953-1954; chiến thắng ĐBP làm phá sản hoàntoàn kế hoạch quân sự
nava, đập tan những cố gắng cao nhất của pháp mĩ tạo cơ sở đi đến hiệp định giơnevơ
buộc ĐQP phải công nhận các quyền dân tộc của 3 nƣớc Đ D là: độc lập, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ; làm sụp đổ hoàn toàn cách mạng thực dân kiểu cũ của TD pháp ở Việt
Nam và làm thất bại âm mƣu can thiệp của ĐQ mĩ vào chiến tranh ĐD.
Thắng lợi vang dội ĐBP là 1 chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô
dịch thuộc địa của CNĐQ và có ảnh hƣởng to lớn trên thế giới, nhất là đối với phong
trào giải phóng dân tộc. Chiến thắng ĐBP đã cổ vũ, khích lệ mạnh mẽ tinh thần giải
phóng dân tộc trên thế giới nhất là các thuộc địa pháp, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì độc
lập tự do của con ngƣời, danh từ VN - HCM - ĐBP đã trở thành biểu tƣợng, ý chí cách
mạng của các dân tộc bị áp bức và toàn thể loài ngƣời tiến bộ, thắng lợi này đƣợc coi là
chiến công chung của các dân tộc yếu, bị áp bức đang CNĐQ, CNTD cũ và mới giành
độc lập.
Chiến thắng ĐBP đã chứng minh một chân lý của thời đại dân tộc đất không rộng ngƣời
không đông nếu biết đoàn kết, kiên quyết đấu tranh theo một đƣờng lối cách mạng đúng
đắn thì có thể chiến thắng bất kỳ tên ĐQ xâm lƣợc to lớn nào.
8. HN giơnevơ 1954 về việc lập lại hoà bình ở ĐD.
Yêu cầu: - Chủ trƣơng của Đảng trong ĐX 1953-1954
- Quá trình của hội nghị giơnevơ
- Hiệp định giơnevơ
- ý nghĩa
Bài làm:
* Chủ trương của ta:
Từ sau chiến thắng biên giới thu đông 1950 trở đi quân ta đã giữ vững và phát huy
quyền chủ động chiến lƣợc chính trên chiến trƣờng bắc bộ cuộc kháng chiến của nhân
dân ta đang có nhiều thuận lợi to lớn.
Bƣớc vào ĐX 1953 - 1954 phát huy những thắng lợi đã đạt đƣợc, đẩy mạnh kháng
chiến, làm thất bại hoàn toàn kế hoạch quân sự nava Đảng chủ trƣơng : đồng thời với
những cuộc tiến công địch trên mặt trận quân sự ta mở cuộc tấn công chúng trên mặt trận
ngoại giao . Chủ trƣơng đó đƣợc thể hiện trong lời tuyên bố của chủ tịch HCM ngày
28/11/1953 "Nếu Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lƣợc thì nhân dân Việt Nam quyết
tâm cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lơị cuối cùng". Nhƣng nếu CP Pháp đã rút đƣợc
bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay; muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam = cách
thƣơng lƣợng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo đƣờng lối hoà bình thì nhân dân và CP
Việt Nam sẵn sàng tiếp ý muốn đó" lời tuyên bố của địch HCM đã tỏ rõ thiện chí hoà
bình của nhân dân văn hoá, có tác dụng thúc đẩy phong trào đấu tranh cho hoà bình ở
pháp và trên thế giới, mở ra khả năng giải quyết = con đƣờng hoà bình ở đông dƣơng.
* Quá trình hội nghị giơnevơ:
Tháng 1 năm 1954 hội nghị ngoại trƣởng của 4 nƣớc (LX, Anh, pháp, mĩ) họp tại
Belin đã thoả thuận về việc triệu tập 1 hội nghị quốc tế giơnevơ để bàn về vấn đề hoà
bình ở triều tiên và đông dƣơng .
Ngày 26/4/1954 giữa lúc quân ta chuẩn bị mở cuộc tấn công đợt III để quyết định số phận của pháp ở ĐBP thì hội nghị giơnevơ về Đ/D chính thức khai mạc. Tham dự hội
nghị giơnevơ về Đ/D ngoài 4 nƣớc đã dự hội nghị ngoại trƣởng còn có nƣớc CHDCND
Trung Hoa và các nƣớc có liên quan phái đoàn của chính phủ VNDCCH do phó thủ
tƣớng Phạm Văn Đồng kiêm bộ trửơng Bộ ngoại giao làm trƣởng đoàn chính thức đƣợc
mời họp 8/5/1954. Tin chiến thắng từ ĐBP bay tới hội nghị, phái đoàn của CP ta bƣớc
vào hội nghị với tƣ thế của một dân tộc chiến thắng.
Cuộc đấu tranh trên giấy đã diễn ra hết sức gay go, quyết liệt và phức tạp, do lập
trƣờng ngoan cố của mĩ. Nhƣng sự kiên quyết, bền bỉ đấu tranh của ta trong quá trình ội
nghị đã làm thất bại âm mƣu phá hoại của Pháp - Mĩ và các thế lực phản động quốc tế
khác.
Ngày 20/7/1954 hội nghị HĐ giơnevơ đã đƣợc các bên ký tắt.
Ngày 21/7/1954 đƣợc ký kết chính thức.
* Nội dung: Hiệp định nêu rõ:
- Các nƣớc tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ của ba nƣớc ĐD (VN, Lào, CPC) cam kết không can thiệp vào công
việc nội bộ của ba nƣớc đó.
- Để chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam hai bên thực hiện ngừng
bắn, tập kết, chuyển quân và chuyển giao khu vực, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự
tạm thời. Hoàn toàn không thể coi là gianh giới về chính trị và lãnh thổ. Đối với lực
lƣợng kháng chiến lào tập kết ở sầm Nƣa và phong xalì. Đối với CPC lực lƣợng kháng
chiến CPC phục viên tại chỗ không có vùng tập kết.
- Hiệp định cấm việc đƣa quân đội, nhân viên quân sự vũ khí nƣớc ngoài vào 3
nƣớc Đ D, các nƣớc Đ D không đƣợc ra nhập những khối liên minh quân sự và không
đƣợc để các nƣớc khác dùng lãnh thổ của mình để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ mục
đích chiến tranh xâm lƣợc.
- Không đƣợc phân biệt, đối xử , không đƣợc trả thù đối với những cá nhân,
những tập thể cũng nhƣ với những gia đình của ngƣời đã cộng tác với 1 trong hai bên
trong thời gian chiến tranh.
- Đối với Việt Nam hiệp định quy định đến cuối T7/1956 Việt Nam sẽ thực hiện
thống nhất đất nƣớc = hiệp thƣơng tổng tuyển cử tự do trong cả nƣớc dƣới sự kiểm soát
của 1 uỷ ban quốc tế gồm các nƣớc : ấn độ, balan, canada và do ấn độ làm chủ tịch.
- Trách nhiệm thi hành thuộc về những ngƣời ký hiệp định trong những ngƣời kế
tục họ.
Mĩ tham gia hội nghị nhƣng không ký kết vào bản tuyên bố chung của hội nghị mà
ra 1 bản tuyên bố riêng cam kết sẽ tôn trọng hiệp định. Việc làm này nằm trong âm mƣu
biến MNVN thành thuộc địa kiểu mới trong căn cứ quân sự của mĩ.
* ý nghĩa:
- Hiệp định giơnevơ về Đ D là văn bản pháp lý quốc tế ghi nhận những quyền dân
tộc cơ bản của nhân dân các nƣớc ĐD đó là: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ và đã đƣợc các cƣờng quốc cùng tham dự hội nghị cam kết tôn trọng.
- Hiệp định giơnevơ 1959 về ĐD cùng với chiến thắng lịch sử ĐBP đã chấm dét Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 91
cuộc chiến tranh xâm lƣợc của thực dân pháp, buộc pháp phải rút hết quân đội về nƣớc,
làm thất bại âm mƣu kéo dài và mở rộng quốc tế hoá chiến tranh xâm lƣợc của đế quốc
mĩ. Một nửa nƣớc - MB đƣợc giải phóng hoàn toàn tạo điều kiện đƣa miền bắc chuyển
sang giai đoạn cách mạng XHCN.
- Tuy nhiên hiệp định cũng còn một số hạn chế nhất định:
+ Ta chƣa buộc đƣợc mĩ ký hiệp định.
+ Quy định thời gian tập kết chuyển quân quá dài: 300 ngày.
+ Trách nhiệm thi hành chỉ thuộc về những ngƣời ký hiệp định và những
ngƣời kế tục nhiệm vụ của họ.
Mặc dù còn có những hạn chế hiệp định giơnevơ 1954 về ĐD đã chấm dứt cuộc
chiến tranh xâm lƣợc của thực dân pháp và can thiệp mĩ ở ĐD.
9. Nguyên nhân thắng lợi : VN LS của cuộc kháng chiến chống pháp 1946 -1954.
a) Nguyên nhân :
Cuộc kháng chiến trƣờng kỳ chống thực dân pháp xâm lƣợc can thiệp của ĐQ mỹ
của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi = chiến dịch ĐBP và hiệp định giơnevơ 1954 về
vấn đề ĐD trong gần 9 năm theo đuổi chiến tranh xâm lƣợc ĐD có hơn 50 vạn lính pháp
và tay sai bị tiêu diệt, bị thƣơng và bị bắt. Pháp đã tiêu tốn gần 3000 tỷ frăng, nội các CP
đã 20 lần lập lên lại đổ xuống, 7 lần pháp phải thay đổi cao uỷ, 8 lần phải thay đổi tổng
chỉ huy quân viễn chinh pháp ở ĐD.
Có được thắng lợi to lớn đó là do những nguyên nhân sau:
-Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đứng đầu là chủ tịch HCM. ngay từ đầu
cuộc kháng chiến Đảng đã đề ra đƣờng lối kháng chiến đúng đắn : "Toàn dân kháng
chiến, toàn diện kháng chiến, trƣờng kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh dựa vào sức mình
là chính". Với chiến lƣợc của một cuộc chiến tranh nhân dân ta đã tổ chức cả nƣớc thành
1 mặt trận tạo nên thế trận cả nƣóc đánh giặc "trăm họ cũng là binh, mỗi ngƣời dân là 1
ngƣời lính, mỗi góc phố là 1 pháo đài, mỗi làng là 1 trận địa vừa kháng chiến vừa kiến
quốc". Có đƣờng lối kết hợp đúng đắn giữa 2 nhiệm vụ c' ĐQ và c' phong kiến phù hợp
với điều kiện lịch sử nƣớc ra, đó là sự vận dụng sáng tạo CN M.Lênin vào hoàn cảnh lịch
sử cụ thể của VN nên đã phát huy đƣợc sức mạnh của dân tộc.
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến c' pháp là thắng lợi của ý chí đoàn kết toàn Đảng
toàn dân kiên quyết 1 lòng quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do theo tinh thần : "Thà hi
sinh tấy cả chứ nhất định không chịu mất nƣớc, nhất định không chịu làm nô lệ", ý chí
đoàn kết đó phát huy cao độ dƣới sự lãnh đạo của Đảng thông qua mặt trận việt minh và
hội LH quốc dân Việt Nam (sau là mặt trận liên việt) nhờ đó toàn dân ta đã vƣợt qua mọi
khó khăn gian khổ không quản ngại hi sinh nêu cao truyền thống yêu nƣớc và chủ nghĩa
anh hùng cách mạng. Phá tan mọi âm mƣu chia rẽ của kẻ thù.
- Ta đã xây dựng đƣợc 1 lực lƣợng vũ trang nhd 3 thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ
đội địa phƣơng, dân quân du kích gan dạ, mƣu trí dũng cảm., có đƣợc chiến thuật của
cuộc chiến tranh nhân dân phong phú, sáng tạo đi từ du kích chiến lên vận động chiến.
lực lƣợng quân đội ta luôn gắn bó với nhân dân, đƣợc nhân dân yêu thƣơng đùm bọc,
che trở. CtnSharing.Com - Download Ebook Free..!!!
Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp THPT 92
- Có hậu phƣơng lớn mạnh của chiến tranh nhân dân đƣợc xây dựng vững chắc về
mọi mặt, đảm bảo cung cấp theo yêu cầu ngày càng tăng của cuộc kháng chiến về sức
ngƣời, sức của.
- Ngoài những nguyên nhân chủ quan nói trên cuộc kháng chiến chống pháp của nhân
dân ta còn có tinhf đoàn kết gắn bó giữa 3 nƣớc ĐD đã phối hợp và giúo đỡ nhau chiến
đấu cùng giành thắng lợi, cuộc kháng chiến chống pháp của nhân dân ta còn nhận đƣợc
sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của Đảng, chính phủ, nhân dân các nƣớc LX, TQ, các
nƣớc dân chủ khác của nhân dân pháp và nhân loại tiến bộ trên TG.
b) ý nghĩa:
Cuộc kháng chiến chống pháp thắng lợi ta đã buộc pháp phải công nhận độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân 3 nƣớ ĐD, làm thất bại âm mƣu
quốc tế hoá chiến tranh của ĐQ mĩ, chấm dứt ách thống trị thực dân kiểu cũ của pháp
gần 1 thế kỷ trên đất nƣớc ta.
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống pháp ta đã bảo vệ và phát triển thành
quả của cách mạng tháng 8, miền bắc hoàn toàn giải phóng , hàn thành cơ bản cuộc cách
mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân, mở ra thời kỳ mới xây dựng CNXH, ở MB trở thành
căn cứ địa cách mạng của cả nƣớc là hậu phƣơng vững chắc cho cuộc kháng chiến chống
mĩ cứu nƣớc; tạo điều kiện để giải phóng nửa nƣớc còn lại ở MN, hoàn thành thống nhất
đất nƣớc.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống pháp của nhân dân ta đã giáng 1 đòn mạnh mẽ vào
hệ thống thực dân, góp phần làm sụp đổ CN thực dân cũ, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ phong
trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trƣớc hết là các nƣớc á, phi.
Chứng minh 1 chân lý của thời đại: trong điều kiện ngày nay, 1 dân tộc đất không
rộng ngƣời không đông nếu quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do, có đƣờng lối chính trị,
quân sự đúng đắn, đƣợc sự ủng hộ của quốc tế thì dân tộc đó hoàn toàn thắng lợi.
Đúng nhƣ chủ tịch HCM đã nói: "Lần đầu tiên trong lịch sử, 1 nƣớc thuộc địa nhỏ
yếu đã đánh thắng 1 nƣớc thực dân hùng mạnh, đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt
Nam đồng thời cũng là thắng lợi các lực lƣợng hoà bình, dân chủ tiến bộ trên thế giới.
Bạn đang đọc truyện trên: AzTruyen.Top